Thơ xuân của Hoàng đế Trần Nhân Tông
tho xuan
THƠ
XUÂN CỦA HOÀNG ĐẾ TRẦN NHÂN TÔNG
PGS.TS.
Nguyễn Công Lý
GVCC Trường Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM
Nguyên GVCC Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG TP.HCM
1. Trong lịch sử của dân tộc ta có nhiều nhân vật được người đời tôn
vinh với nhiều danh vị khác nhau mà những vinh danh đó đều rất xứng đáng cả dù
chúng chưa thể hiện hết và đủ tầm vóc những gì mà người đó đã cống hiến cho đời.
Trần Nhân Tông chính là một trong những danh nhân đó. Ông tên là Trần Khâm, con
trưởng của vua Trần Thánh Tông, sinh năm 1258 và mất năm 1308; lên ngôi trị vì
năm Kỷ Mão 1279 và nhường ngôi làm Thái thượng hoàng vào năm 1293, là vị vua thứ
ba của triều nhà Trần. Ông là một vị minh quân, một vị anh hùng dân tộc bởi dưới
triều đại do ông trị vì, nhà vua luôn chăm lo cho muôn dân, nhân dân được sống
trong cảnh ấm no, hạnh phúc của một đời sống phong phú và thoải mái dễ chịu, rộng
mở và dân chủ. Ông còn là người đã hai lần trực tiếp lãnh đạo toàn quân, toàn
dân đánh tan đế quốc Nguyên Mông hùng hậu và hung hãn vào các năm 1285 và 1288.
Những chiến thắng oai hùng đó không chỉ nâng vị thế của Đại Việt lên tầm cao mới
trong khu vực mà còn góp phần giải phóng các nước Đông Nam Á thoát khỏi ách xâm
lược của đế quốc Nguyên Mông vào cuối thế kỷ XIII. Ông còn là một nhà tư tưởng,
một vị giáo chủ, một Đức Phật sống của đời Trần. Cũng như ông nội của mình, trước
đó khi còn ở ngôi, Nhân Tông vừa trị nước an dân, vừa tu thiền rồi sau khi nhường
ngôi, ông càng có nhiều điều kiện để chuyên tâm nghiên cứu Phật điển, tu tập thiền
định và giáo hóa muôn dân, khuyên toàn dân nên thực hành Thập thiện, xóa bỏ các
dâm từ mê tín dị đoan. Đến năm 1298, nhà vua mới chính thức xuất gia, khoát cà-sa
đi hóa độ khắp nơi, có lần sang tận kinh đô Chiêm Thành vừa để bang giao, vừa
thuyết pháp giảng đạo. Sau đó về núi Yên Tử thành lập Thiền phái Trúc Lâm, một
Phật giáo nhất tông của Đại Việt, lấy hiệu là Hương Vân Đại đầu-đà (Trúc Lâm Đại
đầu-đà), được tôn là Sơ Tổ (Đệ nhất Tổ) của Thiền phái và được người đời tôn
vinh là Điều ngự Giác hoàng, là Đức Biến Chiếu Tôn Phật. Ông lại còn là một nhà
văn hóa, một nhà văn nhà thơ lớn đời Trần. Thư tịch cổ như các sách Thánh đăng ngữ lục, Toàn Việt thi lục (Lê
Quý Đôn), Đại Việt thông sử (Lê Quý
Đôn), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan
Huy Chú) chép rằng Trần Nhân Tông đã để lại cho kho tàng văn hóa tư tưởng, văn
học dân tộc khá nhiều tác phẩm với nhiều thể loại được viết bằng chữ Hán và chữ
Nôm như: Tăng-già toái sự, Thạch thất mỵ
ngữ, Đại Hương Hải ấn thi tập, Trần Nhân Tông thi tập. Ông còn ban chiếu
sai các văn thần biên soạn bộ Trung hưng
thực lục. Rất tiếc là những tác phẩm kể trên đã mất gần hết, chỉ còn lại 31
bài thơ, hai cặp câu thơ lẻ, một bài minh, một bài tán; đặc biệt một bài phú và
một bài ca bằng chữ Nôm: Cư trần lạc đạo
phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Hai tác phẩm Nôm này có in lại trong
sách Thiền tông bản hạnh mà xưa nay
các học giả, các nhà nghiên cứu đều khẳng định đây là một vốn quý của dân tộc,
là hai trong vài tác phẩm chữ Nôm xưa nhất hiện còn, chúng vừa có giá trị ngôn
ngữ, giá trị văn chương lại vừa có giá trị tư tưởng Thiền học với chủ trương tùy
tục, tùy duyên, ở cõi trần mà vẫn vui với đạo. Một điều khá thú vị mà chúng tôi
muốn lưu ý ở đây là trong 31 bài thơ hiện còn được Lê Quý Đôn, nhà bác học của
nửa cuối thế kỷ XVIII có chép lại trong bộ hợp tuyển Toàn Việt thi lục thì có đến 15 bài thơ trực tiếp hoặc gián tiếp thể
hiện cảm hứng về mùa xuân. Tất cả được viết bằng chữ Hán thể thơ Đường luật tứ
tuyệt hoặc bát cú mang phong cách trang nhã, tinh tế và tài hoa, được chuyển tải
bởi một ngôn ngữ hàm súc và diễm lệ. Nhân mùa xuân vận hội mới của đất nước,
xin mời quý độc giả hãy đọc lại những vần thơ xuân cách đây trên bảy trăm năm của
vị hoàng đế thi nhân thiền sư vị Phật Tổ đời Trần.
2. Trần Nhân Tông có nhiều bài thơ đạt đến trình độ kiệt tác, mà Thiên Trường vãn vọng (Buổi chiều ở
Thiên Trường nhìn ra xa); Nguyệt (Trăng) là những ví dụ tiêu biểu. Bài thơ Thiên Trường vãn vọng với bút pháp vừa
thực vừa hư, vừa tĩnh vừa động đã giúp cho người đọc vừa hiểu được cái cụ thể,
lại vừa cảm nhận sâu xa hơn cái cụ thể. Trong khung cảnh trời chiều nơi hành
cung Thiên Trường, nhà vua nhìn ra xa thấy cảnh quê hương với đồng ruộng, xóm
thôn yên ả thanh bình. Trên con đường làng, chú mục đồng ngồi vắt vẻo trên lưng
trâu đang thổi sáo dẫn trâu về chuồng; dưới cánh đồng, có đôi cò trắng bay song
song đáp xuống. Tác giả tự hỏi những thôn xóm trong màn sương mờ ảo kia là có
hay không? Cuối cùng là cái không lời tan biến vào cõi hư không tịch mịch trong
buổi chiều tàn. Bài thơ đạt đến mức “thi trung hữu họa” được viết dưới ánh sáng
của mỹ học Thiền tông, bởi trạng thái chập chờn giữa hư và thực; giữa tĩnh với động; giữa hữu và vô. Còn bài thơ Nguyệt như thi đề cho biết sẽ tả cảnh trăng, nhưng ba câu đầu không
nói về trăng, mà là cảnh đêm tịch tĩnh. Chỉ có giọt sương rơi khẽ khàng trước
sân cùng âm thanh của tiếng chày đập vải vang lên từ nơi nào, như là âm hưởng đồng
vọng trong đêm khuya. Đây là cảnh thực. Đến câu cuối cảnh trăng mới xuất hiện,
vừa thực lại vừa hư, tạo nên vẻ đẹp bừng sáng lung linh bởi ánh trăng hội tụ
trên chùm hoa mộc tê vừa hé nở: Mộc tê hoa
thượng nguyệt lai sơ (Trên chùm hoa mộc nguyệt lồng gương). Nhưng đây không phải là những thi phẩm
viết về mùa xuân.
Mười lăm bài thơ trang nhã, diễm lệ trực tiếp tả cảnh mùa xuân bộc lộ
tình xuân như Xuân nhật yết Chiêu Lăng;
Xuân hiểu; Xuân cảnh; Xuân vãn; Mai; Tảo mai; Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính;
Nhị nguyệt thập nhất dạ; hoặc gián tiếp vì có nhắc đến ý xuân, cảnh xuân, cảm
xuân dù chỉ là bất chợt thoáng qua như Khuê
oán; Đăng Bảo Đài sơn; Động Thiên hồ thượng; Thiên Trường phủ; Sơn phòng mạn hứng;
Đề Cổ Châu hương thôn tự; Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai.
Trước hết, xin điểm qua những ý xuân, cảm xuân bất chợt trong thơ Trần
Nhân Tông. Bài Khuê oán (Niềm oán hận của
khuê phụ) là lời tâm sự của thiếu phụ trong phòng khuê nuối tiếc bâng quơ về
thời gian sau khi thức giấc:
Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng,
Hoàng ly bất ngữ oán Đông phong.
Vô đoan lạc nhật Tây lâu ngoại,
Hoa ảnh chi đầu tận hướng Đông.
(Tỉnh giấc, rèm nâng, ngó rụng hồng,
Hoàng oanh im tiếng giận Đông phong.
Lầu Tây vô cớ, vầng dương lặn,
Cả bóng hoa cành ngả hướng Đông).
Sau một giấc dài, thiếu phụ thức dậy, cuốn rèm mở cửa ngắm nhìn những
cánh hồng rụng rơi; trong khi chim hoàng oanh im bặt tiếng vì oán hận mùa xuân đã
qua, gió xuân không tới nữa. Chim hoàng oanh là biểu tượng của mùa xuân; Đông
phong là gió thổi từ phương Đông, theo Dịch học thì trong Ngũ hành, phương Đông
thuộc Mộc, mà Mộc chỉ mùa xuân, nên Đông phong là gió xuân. Không có tiếng
chim, chẳng có gió xuân, có lẽ lúc này tiết trời đã cuối xuân hoặc mới sang hè.
Tuổi trẻ bao giờ cũng gắn với mùa xuân, nên nàng mới nuối tiếc thời gian chóng
qua, đời người chóng già. Một cảm thức đầy tính triết lý của tác giả về thời
gian, nêu lên quy luật khắc nghiệt của tuần hoàn, qua mấy vần thơ hàm súc, ý tại
ngôn ngoại.
Có lẽ là bắt nguồn từ cảm thức về thời gian nên trong nhiều bài thơ,
Trần Nhân Tông hay nhắc đến gió xuân (Tống
Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai; Khuê oán; Mai; Tảo mai) hoặc cảnh
xuân muộn, xuân tàn (Xuân vãn; Sơn phòng
mạn hứng; Nhị nguyệt thập nhất dạ…). Nhìn cảnh hoa rụng, mưa tạnh, thấy núi
non tịch mịch, lại nghe một tiếng chim kêu nơi biên cương, nhà thơ thiền sư mới
biết mùa xuân đã qua: Hoa tận, vũ tình,
sơn tịch tịch/ Nhất thanh đề điểu, hựu xuân tàn - Sơn phòng mạn hứng, bài 2
(Hoa tàn, mưa tạnh, non im lắng/ Xuân cỗi còn dư một tiếng chim). Cảnh xuân tàn
ở đây có thể là hình ảnh biểu trưng cho tuổi già, cho con người đã sang bên kia
dốc của cuộc đời? Có lần, tác giả lên chơi núi Bảo Đài, thấy cảnh núi mây như
xa như gần; ngõ hoa nửa rợp nửa nắng, nhà thơ cảm thức về thời gian cứ tuần
hoàn trôi nên không cất lời mà chỉ tựa lan can thổi sáo dưới ánh trăng sáng
chan hòa trước ngực (Đăng Bảo Đài sơn). Cuối
cùng là cái vô ngôn. Bài thơ mang cảm thức Thiền, và có lẽ lúc này nhà vua thiền
sư đang tu trên Yên Tử, bởi Bảo Đài là một ngọn núi thuộc dãy Yên Tử ở Đông Triều,
Quảng Ninh.
3. Tiếp theo là những vần thơ trực tiếp tả cảnh mùa xuân bộc lộ tình
xuân. Ngày xuân, nhà vua về quê hương Thiên Trường viếng lăng mộ ông nội là Trần
Thái Tông, lại nghĩ đến một thời hào hùng oanh liệt với chiến tích chống Nguyên
Mông lần thứ nhất của dân tộc, làm nên hào khí Đông A bất diệt (1258), vì thế
mà người lính già đầu bạc tham gia kháng chiến ngày nào giờ đang coi giữ lăng mộ
vẫn mãi mãi kể chuyện về đời Nguyên Phong với niềm tự hào lớn (Nguyên Phong là
niên hiệu lần thứ ba (từ 1251 đến 1258) của Trần Thái Tông (lên ngôi 1225, nhường
ngôi 1258 khi còn trị vì): Bạch đầu quân
sĩ tại/ Vãng vãng thuyết Nguyên Phong. (Lính bạc đầu còn đó/ Chuyện Nguyên
Phong kể hoài - Xuân nhật yết Chiêu
Lăng). Hay như ngày cuối xuân trong tiết hàn thực mùng ba tháng ba, sau khi
thưởng thức các điệu múa cùng với sứ giả phương Bắc, nhà vua tặng bánh trôi,
bánh chay, bánh rau cho sứ giả và bảo rằng đây là phong tục riêng của nước Nam.
Lời thơ nói ít mà ý nhiều, thể hiện bản lĩnh vị hoàng đế nước Nam cùng bộc lộ
niềm tự hào về văn hóa, văn hiến phương Nam trước sứ thần phương Bắc (Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính - Tặng
bánh ngày xuân cho Trương Hiển Khanh).
Hai bài thơ Mai và Tảo mai ngợi ca vẻ đẹp thanh cao, cốt
cách chịu đựng sương tuyết của loài hoa đứng đầu trăm hoa, để trước gió xuân
khoe sắc vàng rực rỡ, sắc trắng tinh khôi và tỏa hương làm cho lòng người ngây
ngất. Có khi tả hoa mai nở sớm trong buổi đông tàn, để khi xuân sang chỉ còn
loáng thoáng vài cánh thơm nhẹ mà nhà thơ lại nghĩ đến chị Hằng. Ý thơ thật lạ,
giàu liên tưởng và sáng tạo: Hằng (Thường)
Nga nhược thức hoa giai xứ/ Quế lãnh, Thiềm hàn chỉ má hưu. (Hằng Nga như
biết đây hoa đẹp/ Quế lạnh, cung Thiềm há muốn ưa? - Tảo mai, bài 2). Vì thế
mà Hồ Nguyên Trừng trong tác phẩm Nam Ông
mộng lục viết vào đầu thế kỷ XV, tại câu chuyện thứ 19 có nhan đề Thi ý thanh tân đã hạ bút khen rằng: “Kỳ thanh tân hùng kiện quýnh xuất nhân biểu.
Thiên thặng chi quân thú hứng như thử, thùy vị nhân cùng thi nãi công hồ?” (Cái
thanh tân hùng tráng vượt quá người thường. Thi hứng của vị vua một nước có
nghìn cỗ xe như vậy, ai dám bảo người ta khi khốn cùng thì mới có thơ hay?).
Xin giới thiệu ở đây ba bài thơ đặc sắc về mùa xuân: Xuân hiểu, Xuân cảnh và Xuân vãn.
Xuân hiểu (Buổi sớm mùa xuân) là một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt xinh xắn, trong
trẻo, hồn nhiên, thuần túy tả cảnh buổi sớm mùa xuân thật thơ mộng. Bài thơ có
lẽ được viết khi Trần Nhân Tông còn trẻ, rất trẻ, đang yêu đời, lòng tràn trề lạc
quan nên ý tứ trong bài dạt dào sức xuân, đầy tình yêu cuộc sống thông qua hình
ảnh đôi bướm trắng tung tăng bay tới cành hoa mơn mởn đang tỏa nhụy thơm hương:
Thụy khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ quy.
Nhất song bạch hồ điệp,
Phách phách sấn hoa phi.
(Ngủ dậy, ngỏ song mây,
Xuân về, vẫn chửa hay.
Song song đôi bướm trắng,
Phấp phới sấn hoa bay).
Còn bài Xuân cảnh (Cảnh mùa
xuân) có lẽ được viết khi Trần Nhân Tông đã nhường ngôi cho con là Trần Thuyên tức
Trần Anh Tông (1293-1314) để lên núi Yên Tử tu thiền và sáng lập Thiền phái
Trúc Lâm Yên Tử. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt tả cảnh mùa xuân nơi am thanh chiền
vắng, có hoa dương liễu trổ dày, có tiếng chim kêu nhẩn nha chậm rãi; trên bầu
trời thì có áng mây chiều đang lướt bay nhẹ nhàng. Trong cảnh tịch tĩnh yên ắng
ấy, có vị khách đến thăm, chẳng hỏi chuyện nhân gian thế sự, cũng không tham vấn
về Thiền mà chỉ đứng tựa lan can bên thềm hoa cùng với thiền sư nhìn ngắm màu
xanh nhạt nhòa mờ mịt ở nơi chân trời xa. Cảnh hiện thực trong buổi tà dương đến
đây đã biến thành tâm cảnh. Chủ và khách cùng im lặng. Cảnh vật và lòng người
như hòa làm một. Chủ cũng thế mà khách cũng thế. Cái vô ngôn ở cuối bài thơ như
thể hiện ý vị Thiền đạo, đạt đến chỗ giải thoát:
Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,
Họa đường thiềm ảnh, mộ vân phi.
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi.
(Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày,
Thềm hoa chiều rợp, bóng mây bay.
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,
Cùng tựa lan can ngắm núi mây).
Và bài thơ Xuân vãn (Xuân
muộn) có lẽ cũng được viết khi Trần Nhân Tông đã là vị giáo chủ Thiền phái Trúc
Lâm. Lúc này tuổi đã cao, công phu thiền định đạt chỗ liễu ngộ giải thoát, rõ lẽ
“sắc” và “không” của kinh văn Bát-nhã nên
thiền sư nhìn cuộc đời như như tự tại, thản nhiên. Thiền sư có dịp hồi tưởng một
thời tuổi trẻ của mình, lúc ấy mỗi khi xuân về thì lòng rộn ràng gởi ở trăm
hoa. Còn bây giờ đã hiểu được, ngộ ra, tức khám phá được bộ mặt của chúa xuân
(Đông hoàng diện), tức cũng có thể là thấy rõ chân như, tự tính, bản tâm thanh
tịnh, bản lai diện mục nên dù đang ngồi thiền, ngắm cảnh hoa rụng mà lòng vẫn
nhất như, không xao động. Cái tâm thanh tịnh tuyệt đối. Đến đây tâm và pháp nhất
như, hòa làm một, không phân biệt nội giới với ngoại cảnh. Bài thơ thể hiện tư
tưởng Thiền học uyên áo, uyên nguyên, uẩn súc, chỉ có thể cảm nhận bằng trực cảm
tâm linh chứ không thể luận bình:
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.
Như kim khám phá Đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.
(Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không,
Xuân sang, hoa nở, rộn tơ lòng.
Chúa xuân nay đã thành quen mặt,
Nệm cỏ ngồi thiền ngó rụng hồng).
4. Thơ là tiếng lòng, là tiếng nói cảm xúc của thi nhân trước hiện thực.
Phan Phu Tiên trong lời tựa Việt âm thi tập
(1433) có viết: “Tâm hữu sở chi, tất
hình ư ngôn. Cố thi dĩ ngôn chí dã”. (Trong lòng có điều gì, tất thể hiện
ra lời nói. Cho nên, thơ là để nói cái chí vậy). Chí ở đây cũng là tâm, là cảm xúc, là tấm lòng. Cảm hứng mùa xuân
trong thơ của hoàng đế thi nhân thiền sư vị Phật Tổ Trần Nhân Tông là như thế.
Do khuôn khổ của một bài báo, tôi không thể viết dài và có thể chưa nói hết cái
hay, cái đắc sắc trong thơ mùa xuân của vị hoàng đế thi nhân thiền sư này.
Ngày Đông chí năm Ất Tỵ 2025 - NCL
Những thi phẩm phiên âm nguyên tác và bản dịch được trích trong bài
viết này chúng tôi lấy từ Thơ văn Lý - Trần,
tập 2, quyển thượng, NXB.Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1988 từ tr.451-472.