Cao
Huy Thuần
Mở
đầu cuộc đấu tranh, Phật giáo ra một tuyên ngôn, đọc tại chùa Từ Đàm, Huế, ngày
10-5-1963, trong đó đoạn cuối nói về phương pháp tranh đấu như sau:
"Phương pháp ấy là "bất bạo động".
Chúng tôi ý thức đang ở trong hoàn cảnh mà chính trị và quân sự cực kỳ phức tạp.
Chúng tôi, hơn thế nữa, phải thể hiện tư tưởng của Phật giáo ngay trong công
cuộc tranh đấu của chúng tôi. Vì những lý do đó, chúng tôi chấp nhận một
sự hy sinh đến cùng độ và lấy sự hy sinh ấy làm sức mạnh để rung chuyển tận lòng
người chứ không phải chỉ rung chuyển chính sách mà thôi. Ngay từ bây giờ, chúng
tôi có thể tuyên bố minh bạch rằng những người tăng sĩ của Phật giáo là những
người sẵn sàng noi gương Gandhi - vị thánh của sức mạnh bất bạo động".
Hai điểm được nêu rõ trong đoạn tuyên ngôn: một là đường lối bất
bạo động, hai là "thể hiện tư tưởng của Phật
giáo". Hai điểm thật ra là một, bởi vì tư tưởng của Phật giáo là bất bạo
động. Mà bất bạo động trong Phật giáo là sức mạnh "làm
rung chuyển tận lòng người".
Ngay từ đầu, Phật giáo đã xác quyết: hành động không được rời khỏi tư tưởng. Bởi
vậy, tuy có thể là thừa đối với những người Phật tử thuộc kinh, tôi phải nhắc
lại ở đây quyển kinh mà họ sùng kính vào bậc nhất, kinh Pháp Hoa, trong đó tôi
trích câu chuyện về một vị tăng kỳ quái. Ông tăng này kỳ quái thật, vì ông chẳng
hề đọc tụng kinh điển gì, nhưng gặp ai cũng chắp tay
kính cẩn lễ bái và nói: "Tôi không dám khinh người, vì người sẽ được làm Phật". Nhiều người cho ông này là khùng, có khi nổi giận mắng nhiếc, có khi
ném đá quất roi đuổi đi.
Mặc cho mắng nhiếc đuổi đánh, ông tăng vẫn cứ câu ấy chắp tay
lễ bái, đến chết vẫn không đổi. Ấy vậy mà Phật tán dương, xem ông như một vị Bồ tát, trong kinh gọi
là bồ tát Thường Bất Khinh. Chuyện này trong kinh Pháp Hoa xác quyết một
điều nằm trong toàn bộ kinh điển Phật giáo mà ai cũng biết: trong mỗi con người,
ai cũng có Phật tính, ai cũng có Phật trong lòng. Có khi tính
Phật đó mờ đi như trăng bị mây che, nhưng trăng vẫn còn đó, đâu có mất.
Bởi vậy, Phật giáo không hề coi ai là kẻ thù vì ai cũng giống
mình, bình đẳng với mình, thù người chẳng hóa ra thù cả đức Phật trong người ấy
hay sao? Không chống con người, Phật giáo chỉ chống hành động.
Hành động có thiện có ác, ác thì phải chống. Nguyên tắc kinh điển này,
các vị lãnh đạo Phật giáo long trọng tuyên bố ngay từ đầu trong Tuyên ngôn Từ
Đàm: "Chúng tôi không coi ai là kẻ thù, nhất là
đối với đạo Thiên chúa".
Không coi ai là kẻ thù, tư tưởng đó của Phật giáo trùng hợp với tư tưởng của
Gandhi mà cuộc đấu tranh 1963 xem như là gương sáng. Gandhi nói: "Một
hành động tốt phải được tán thành, một hành động xấu phải được phản đối, người
làm hành động, dù tốt hay xấu, luôn luôn phải được kính trọng hay thương xót tùy
theo trường hợp. Hãy ghét tội lỗi chứ không phải người làm tội lỗi...
Chống lại hay tấn công một hệ thống là đúng, nhưng chống lại hay tấn công tác
giả của hệ thống ấy là giống như chống lại hay tấn công chính ta"
Ứng dụng tư tưởng ấy vào hành động, bản Tuyên ngôn nói rõ: "Chúng tôi không chủ trương lật đổ. Chúng tôi chỉ có cái nguyện vọng "cải thiện chính sách".
Chúng tôi không nói vấn đề người. Người nào đứng ra phụ
trách chính phủ mà chính sách không cải thiện thì nguyện vọng của chúng tôi
không thỏa mãn".
Đó là đối với chính phủ. Đối với đạo Thiên chúa mà chính phủ Diệm nâng lên như thử là quốc
giáo cũng vậy. Bản Tuyên ngôn nói trực tiếp: "Chúng tôi tranh đấu là tranh đấu cho lý tưởng công
bình (mà vì thế mà động cập đến đạo Thiên chúa) chứ không phải tranh đấu với tư
cách một Tôn giáo chống với một Tôn giáo... Chúng tôi cho rằng bất cứ ai, kể cả
chúng tôi, nếu cho Tôn giáo của mình có giá trị tuyệt đối và chỉ có Tôn giáo của
mình mới đáng tồn tại thì đây là quan niệm sai lầm nhất".
Bản chất của câu nói này là tôn giáo hay văn hóa? Tôi quả quyết là văn hóa.
Qua Phật giáo, bản Tuyên ngôn muốn khẳng định một đặc tính của văn hóa Việt Nam
mà Phật giáo là nòng cốt: tính khoan hòa, khoan dung. Ngày ấy, 1963, cũng như
ngày nay, cũng như trong lịch sử thế giới, an
ninh và đoàn kết dân tộc bị đe dọa bởi hiềm khích và thù hận tôn giáo. Nhìn văn
hóa của Âu châu ngày trước, nhìn văn hóa của các nước Hồi giáo ngày nay, cái gì
đã đưa đến chiến tranh, tàn sát, khủng bố? May thay, trong văn hóa Việt Nam không có nọc độc của thánh chiến.
Không có cái tham sân si của chân lý độc tôn. Do đâu? Nhờ ai? Cái biệt tài của văn hóa khoan dung đó, Phật giáo tự
hào cho mình và cho cả dân tộc. Suốt cả mùa tranh đấu, cho đến
cả những năm 65, các nhà lãnh đạo chỉ nhắc lui nhắc tới có ngần ấy thôi.
Tôi trích một đoạn chỉ thị:
"Nỗ lực và nỗ lực một cách liên tục để chấm cho
dứt những chính sách không phù hợp với sự sinh tồn của Dân tộc và Phật giáo,
phát triển Phật giáo bằng sự thực hiện của bản thân mà không bằng cách làm
thương tổn các tôn giáo khác, càng nêu cao đức tính Từ bi bao nhiêu lại càng
thực hiện đức tính Vô uý bấy nhiêu: đó là "ý thức Phật tử" đơn giản vô cùng
nhưng khó khăn vô tận"
"Ý thức Phật tử" mà các vị lãnh đạo nhấn mạnh chính là ý thức về cái bản sắc văn
hóa đặc thù ấy của tổ tiên mà Phật giáo phải gìn giữ và phát huy. Cái bản sắc ấy,
các nhà thừa sai của thời xâm lược thuộc địa, rồi các chính phủ hậu thuộc địa kế
thừa, đã tập trung sức lực để phá đổ, đưa đến cái Dụ số 10 quái gỡ mà chính
quyền Ngô Đình Diệm triệt để tận dụng.
Gián tiếp, Dụ số 10 chỉ xem có một tôn giáo ở Việt Nam thôi là Thiên chúa giáo,
Phật giáo đứng ngang hàng với các hiệp hội, không hơn gì các hội từ thiện, thể
thao, một thứ tín ngưỡng vặt. Từ giám mục Puginier của thời xâm lược đến giám
mục Ngô Đình Thục của thời Bến Hải chia đôi, chính sách độc tôn bay thẳng một
đường mũi tên, nhắm trái tim của văn hóa khoan hòa truyền thống mà bắn.
Thách thức của 1963 là thách thức ấy. Thách thức văn
hóa dựa trên sức mạnh chính trị, quân sự.
Y hệt thời các Đô đốc thực dân nả súng vào Đà Nẵng. Đứng trên mặt văn hóa, hai
thời kỳ giống nhau như hai trẻ sinh đôi. Cả hai đều có bối cảnh là chiến tranh,
cả hai chiến tranh đều cho phép một lực lượng luận thuyết rằng muốn thắng quân
sự phải dùng đến cái súng cối văn hóa. Tự bảo vệ mình để bảo vệ văn hóa của dân
tộc: ý nghĩa của 1963 là vậy. Căn bản là bảo vệ văn hóa. Lật
đổ ông Diệm không phải là vấn đề đặt ra. Tận trong thâm
sâu, Phật giáo không muốn làm chính trị.
Lịch sử của các cuộc nổi dậy ở đâu cũng bắt đầu bằng một biến
cố bất ngờ, không toan tính trước, tưởng như tình cờ nhưng thực sự nằm trong một
diễn biến hợp lý.
Phong trào Phật giáo năm 1963 cũng bắt đầu bằng một biến cố như vậy: đó là lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày Phật Đản,
đưa đến vụ thảm sát tám em bé trước đài phát thanh Huế.
Lệnh đó đến từ đâu? Từ
tổng giám mục Thục. Từ một chức sắc tôn giáo.
Uất ức nhẫn nhục trong chín năm tràn đầy thêm một giọt nước mắt.
Phật giáo không cho đó là nhục riêng của mình. Nhục chung cho cả văn hóa của tổ tiên. Thêm vào đó, ông Thục đang trấn địa ở ngay Huế, vốn được coi là "kinh
đô Phật giáo" của cả miền Trung.
Dân Huế hàng năm vẫn còn cúng giỗ các âm hồn trên các đường
phố để kỷ niệm ngày thất thủ kinh đô năm 1885. Thiết giáp mà ông Thục đã ra lệnh bao vây đài phát
thanh và nả súng vào dân chúng được xem như một vụ tấn công vào kinh đô lần thứ
hai, lần này là kinh đô văn hóa.
Bạo lực trong hành động đi đôi với bạo lực trong lý thuyết. Mùa hè 1963, giáo chức đại học Huế chúng tôi được triệu lên Viện Đại
Học để nghe ông Thục dạy về tôn giáo.
Ông dạy: đại đa số người Việt Nam theo "đạo ông bà", Phật giáo chỉ là thiểu số.
Ông dạy như thế trong một thành phố mà nhà nhà treo cờ, người người mô Phật.
Gandhi có nói: "Tôi đã học được, qua kinh
nghiệm cay đắng, một bài học tối thượng về sự kiềm chế giận dữ, và giống như hơi
nóng nén lại thì được chuyển thành năng lượng, giận dữ được kiềm chế có thể
chuyển thành sức mạnh có khả năng dời cả thế giới". Ông Diệm đã
tấn công vào thành trì văn hóa trong suốt chín năm, ông Thục
bồi thêm một phát đại bác văn hóa cuối cùng, và phẫn uất
biến thành lịch sử 1963 dời được cả một thế
giới cuồng tín.
Pháp nạn năm 1963 là vậy: cuồng tín không phải
là văn hóa Việt Nam. Chống cuồng tín là bảo vệ văn hóa.
Không phải làm chính trị. Đây là điểm thứ hai phải nói rõ, bởi vì
câu hỏi "Phật giáo muốn gì?" được đặt ra rất gay gắt, nhất là từ phía người Mỹ,
tác nhân chính trong chiến tranh, sau năm 1963.
Giáo sư Cao Huy Thuần
Theo TVHS