Phật giáo và tơ lua
phat giao va to lua a
PHẬT GIÁO VÀ TƠ LỤA
Tiến sĩ A.R. Shenoy - Nguyên Hiệp dịch
Câu
chuyện về tơ lụa, ở nhiều khía cạnh, vừa là câu chuyện về tiền sử loài người,
vừa là câu chuyện về lịch sử; đó là câu chuyện về sự quan sát và tìm tòi của
con người. Theo một truyền thuyết Trung Quốc, bà Tây Lăng Thị (西陵氏) (vợ của vị
hoàng đế thần thoại - người được cho đã trị vì Trung Quốc vào khoảng năm 3000
TCN) được tin là người đã giới thiệu nghề nuôi tằm và phát minh ra khung dệt.
Truyền thuyết cũng phong cho bà Tây Lăng Thị danh hiệu "Nữ thần tơ
lụa". Những phát hiện khảo cổ mới dọc theo hạ lưu sông Dương Tử ở Trung
Quốc, chẳng hạn như một chiếc cốc nhỏ bằng ngà voi được chạm khắc hình con tằm,
được cho là có niên đại từ 6.000 đến 7.000 năm, cùng với các dụng cụ kéo sợi,
sợi tơ và mảnh vải, cho thấy nguồn gốc của nghề nuôi tằm thậm chí còn sớm hơn
so với suy nghĩ trước đây, thậm chí có thể trước khi lịch sử được ghi chép!
Tại
Bảo tàng Anh, có một bức tranh bằng gỗ mô tả các cảnh trong câu chuyện cổ tích Công chúa tơ lụa - câu chuyện kể về một cô
công chúa Trung Quốc đã lén mang bí mật làm lụa ra khỏi Trung Quốc và đến đất
nước của người chồng mới cưới, vị vua của Khotan (nay thuộc tỉnh Tân Cương) vào thế kỷ I CN. Vì
là công chúa nên lính canh gác biên giới không dám lục soát cô. Ở nơi bức tranh
này, chúng ta thấy chiếc khăn trùm đầu cầu kỳ của cô công chúa đang che giấu
kén tằm và hạt dâu tằm. Khía cạnh thú vị nhất về bức tranh gỗ này là nó được
tìm thấy trong một ngôi chùa ở Khotan, và do đó có vị trí trong bối cảnh tôn
giáo. Nó là bằng chứng cho thấy sự tương tác mật thiết giữa tôn giáo, nghi lễ
và đời sống hàng ngày của Khotan cổ đại dọc theo Con đường tơ lụa và vai trò
của tơ lụa như một vật quan trọng trong các nghi lễ Phật giáo.
Ngoài
ra, khi xét đến thực tế rằng người Trung Quốc đã biết đến tơ lụa từ thời tiền
sử, việc lén mang bí quyết sản xuất tơ lụa từ Trung Quốc ra nước ngoài như được
thể hiện nơi hiện vật Khotan tại Bảo tàng Anh cũng cho thấy rằng người Trung
Quốc đã bảo vệ bí mật về tơ lụa và nghề nuôi tằm của họ một cách nhiệt thành và
thành công như thế nào trong hàng nghìn năm! Sự ra đời của Phật giáo ở tiểu lục
địa Ấn Độ cổ đại và sự truyền bá sau đó đến Viễn Đông, cụ thể là Trung Quốc, đã
có tác động tích cực đến thương mại tơ lụa giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Trên thực
tế, sự tương tác giữa hai nền văn minh Trung-Ấn vào buổi đầu có thể được nhìn
nhận qua lăng kính của mối liên hệ mật thiết giữa Phật giáo và tơ lụa.
Việc sử dụng lụa ở Ấn Độ cổ đại được chứng minh bằng
các bức bích họa trong các ngôi chùa hang Phật giáo ở Ajanta có niên đại từ thế
kỷ II TCN đến khoảng thế kỷ VII CN. Tại đây, chúng ta có thể nhận thấy cách
thức mà ở đó phong cách trang phục Trung Á, chẳng hạn như mũ, áo dài và giày
bốt, đã ảnh hưởng đến trang phục Ấn Độ vì những đồ dùng này thường xuất hiện
trong các tác phẩm nghệ thuật ở Ajanta. Tại hang động số 18 ở Ajanta, có một bức
bích họa mô tả một người hầu cận hoàng gia mặc "áo lụa thêu hoa văn hay
một người hầu gái mặc áo lụa kẻ sọc".
Mối
liên hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ về tơ lụa mật thiết đến mức trong ký ức của
nhiều người Ấn lớn tuổi, hình ảnh thương nhân Trung Quốc gõ cửa chào bán vải
lụa đã trở thành hình ảnh quen thuộc cho đến đầu những năm 1960. Hình ảnh này
thậm chí còn trở thành chủ đề của một bức tranh biếm họa của R.K. Laxman trên
tờ Times of India sau cuộc xâm lược
của Trung Quốc vào năm 1962. Nơi bức tranh biếm họa, một người đàn ông Mumbai
đã ngất xỉu khi nhìn thấy một người bán lụa Trung Quốc trước cửa nhà mình!
Người vợ trấn an ông rằng đó không phải là lính Trung Quốc mà chỉ là người bán
lụa Trung Quốc. Bầu không khí cay đắng của sự nghi ngờ và thù địch đối với bất
cứ điều gì liên quan đến Trung Quốc hoặc có nguồn gốc từ Trung Quốc sau cuộc
chiến tranh Trung-Ấn năm 1962 đã hủy hoại hoạt động của những người bán lụa
Trung Quốc/Tây Tạng, những người thường đi gõ cửa từng nhà để bán hàng hóa bằng
lụa của họ.
Lụa trong nghi lễ Phật giáo
Tư
tưởng về cái chết và kiếp sau, khái niệm về "thế giới bên kia" đã tồn
tại cùng với con người kể từ buổi bình minh của quá trình tiến hóa. Các địa
điểm chôn cất từ thời đồ đá chứa đựng những đồ vật được người chết quý trọng là
minh chứng hùng hồn cho mối quan tâm của con người đối với số phận sau cùng của
mình. Mối quan tâm đối với đời sống ở thế giới bên kia đã được đẩy đến cực điểm
ở nơi các kim tự tháp Ai Cập và các địa điểm chôn cất cổ đại ở Trung Quốc, ở đó
vô số di vật và vật phẩm được lưu giữ một cách có hệ thống để đảm bảo rằng
những người chết thuộc tầng lớp quý tộc và hoàng gia không thiếu thốn bất cứ thứ
gì nơi cuộc sống vĩnh hằng sau khi chết. Lụa dĩ nhiên là một phần trong danh
mục các đồ vật tại các khu mộ táng ở Trung Quốc, nhưng điều hoàn toàn gây ngạc
nhiên là lụa cũng được tìm thấy trong các kim tự tháp của Ai Cập cổ đại. Các
nhà Ai Cập học đã tìm thấy vải lụa từ một xác ướp nữ khoảng 30 - 50 tuổi ở Deir-el-Medina,
Thebes. Mặc dù lụa trở nên phổ biến hơn ở Ai Cập từ thế kỷ IV CN, nhưng việc
phát hiện vải lụa ở Deir-el-Medina cho thấy lụa thật sự đã được sử dụng ở Ai
Cập từ khoảng 1.000 năm TCN, cho thấy có thể có một mối liên hệ thương mại gián
tiếp hoặc thậm chí trực tiếp giữa Trung Quốc và Ai Cập liên quan đến tơ lụa như
một mặt hàng.
Trong Phật giáo, việc sử dụng lụa như một vật thiêng liêng đã được
ghi chép rộng rãi trong các tài liệu lịch sử.
Phật giáo, khởi sinh ở
Ấn Độ vào thế kỷ VI TCN, đã được truyền vào Trung Quốc vào đầu CN và tiếp tục
phát triển mạnh mẽ vào thời nhà Đường và được hoàng gia tiếp nhận. Phật giáo
khi truyền vào Trung Quốc đã chịu ảnh hưởng văn hóa bản địa và là một phần
không thể thiếu của văn hóa truyền thống Trung Quốc.
Việc sử dụng lụa như một yếu tố trong các nghi lễ Phật giáo bắt
đầu muộn nhất là vào thế kỷ IV CN. Từ thế kỷ V CN, ở cả Ấn Độ và Trung Quốc,
các lá cờ bằng vải lụa được coi là bắt buộc trong các nghi lễ. Phong tục các
hoàng đế ban tặng cà-sa cho các Tăng sĩ đã trở nên đặc biệt quan trọng vào triều
đại nhà Đường, mặc dù có lẽ nó đã bắt đầu từ thế kỷ VI. Chất lượng của cà-sa lụa
được ban tặng trở thành biểu tượng địa vị trong giới Tăng lữ Phật giáo và các
nhân vật tôn giáo khác. Các văn bản tiếng Sanskrit đã giải thích rõ việc cúng
dường lụa của các tín đồ. Trong Đại sự
(Mahavastu), một tác phẩm thuộc Thuyết xuất thế bộ (Lokottaravāda) và là một trong những văn bản Phật giáo quan trọng
còn tồn tại từ những thế kỷ đầu CN, có ghi rằng: "Người nào đặt một vòng
hoa bằng lụa mịn lên tháp tưởng niệm bậc cứu độ thế gian sẽ thành công trong mọi
việc, cả giữa chư thiên và loài người, thoát khỏi những gia tộc thấp kém và
không tái sinh vào đó. Người đó sẽ trở nên giàu có và thịnh vượng, và trở thành
người cai trị thế gian này". Trong những ghi chép thời nhà Đường về những điều
kỳ diệu ở Ấn Độ, một đoạn từ Pháp uyển
châu lâm (法苑珠林) viết rằng khi Đức Phật Thích
Ca nhập Niết-bàn, Ngài đã để lại chiếc y bằng kim tuyến - do di mẫu của Ngài
làm - cho Bồ-tát Di Lặc, vị Phật tương lai. Đại đệ tử của Ngài, Tôn giả Đại Ca
Diếp, được giao nhiệm vụ giữ chiếc y này. 20 năm sau, Tôn giả Đại Ca Diếp đã vào
nhập định trong một hang động trên núi, chờ Bồ-tát Di Lặc hạ sinh để trao lại
chiếc y này.
Lụa Ấn Độ từ thế kỷ V đến VI CN có lẽ đã đến Trung Quốc. Một tài
liệu Trung Quốc được tìm thấy trong một ngôi mộ có niên đại năm 574 CN ở
Turfan, Trung Á, đã đề cập đến một loại vải lụa "thêu kim tuyến thần thánh",
tức là một loại lụa được làm mà không cần giết tằm để bảo vệ chiều dài của các
sợi tơ kén. Khi Phật giáo hưng thịnh ở Trung Quốc, các biểu tượng may mắn của Ấn
Độ, như chim công, sư tử, voi và cây Bồ-đề, đã cùng xuất hiện trong bộ sưu tập
động vật Trung Quốc trên các họa tiết dệt may.
Dậu dương tạp trở (酉陽雜俎), một tác phẩm Trung
Quốc thế kỷ IX CN do Đoàn Thành Thức (段成式) biên soạn, đã đề cập đến tục lệ người ta phủ khăn che mặt (làm
bằng lụa) lên người chết ở Trung Quốc thời nhà Đường. Một bản ghi chép có niên
đại năm 437 CN, sau khi liệt kê quần áo của người chết, đã ghi “một bó sợi tơ
vàng dài 39 thước”, tiếp theo là các biểu tượng bói toán Trung Quốc: “Rồng đen
bên trái, hổ trắng bên phải, chim sơn ca đỏ phía trước, huyền vũ (một loài vật
tưởng tượng, kết hợp giữa rùa và rắn) phía sau”. Trong Thổ lỗ phiên xuất thổ văn thư (吐鲁番出土文書), một bản kiểm kê khá điển hình về các hiện vật từ một ngôi mộ
có niên đại năm 548 CN, có ghi rằng “mười nghìn đồng vàng, một triệu đồng bạc,
một nghìn mảnh gấm, mười nghìn cuộn vải gấm, một nghìn cân tơ tằm, mười nghìn
cuộn lụa trơn, và một sợi tơ dài 1.000.090.000 thước để leo lên trời”. Nơi một
hình ảnh khác từ một ngôi mộ thời nhà Đường ở Trung Quốc, một Tăng sĩ Phật giáo
được thể hiện đang giúp một tín đồ sang thế giới bên kia, hy vọng là một trong các
cõi trời, với dụng cụ là sợi tơ để leo lên trời ở trong tay. Trong một trường hợp
khác từ thời nhà Đường ở Trung Quốc, một bản kiểm kê có niên đại năm 673 CN từ
một ngôi mộ ghi rằng: “Ông đã cho tạc một bức tượng Phật và hai bức tượng Bồ-tát,
và ông đã tụng kinh Vu lan. Ông mong
muốn dùng phước đức tích lũy được từ những nỗ lực này ở thế giới bên kia cùng với
vô số tiền bạc, lụa và những nô lệ nam nữ được nêu tên cụ thể là tài sản cá
nhân của ông”. Ngoài ra, có một số bản kê khai công đức thu được từ các ngôi mộ
được lập bởi người thân của người đã khuất. Một người phụ nữ đã liệt kê phước đức
của mẹ chồng mình bao gồm cả những khoản tiền mà bà đã trả cho chư Tăng để tụng
kinh cũng như những vật phẩm cúng dường bằng lụa cho chư Tăng. Từ một bản kê
khai khác thu được từ một ngôi mộ, một người phụ nữ đã liệt kê trong số nhiều
công đức của cha chồng quá cố của mình những bài kinh mà ông đã tụng, những lá
cờ bằng lụa ông đã làm, và những bộ quần áo bằng lụa ông đã quyên góp.
Danh sách dài này ghi lại rất nhiều việc đã được thực hiện để cố
gắng cứu sống ông khỏi cái chết trong suốt thời gian ông lâm bệnh. Vào thế kỷ
IX CN, một ngôi chùa ở Trường An đã lưu giữ sáu món đồ thuộc về hoàng hậu Võ Tắc
Thiên (684-705 CN), bao gồm một chiếc khăn choàng bằng vải dệt kim tuyến vàng
có họa tiết rồng, một chiếc áo khoác và một chiếc áo sơ mi thêu.
Theo sử sách, vị thầy Mật tông Bất Không Kim Cương (Amoghavajra) đã nhận được từ hoàng đế rất
nhiều thước vải các loại, và các nguồn tư liệu Phật giáo cho biết ngài không hề
giữ chúng cho riêng mình. Ngài Bất Không Kim Cương là vị Tăng sĩ Phật giáo được
kính trọng ở triều đình nhà Đường, có lẽ chỉ sau ngài Huyền Trang. Vị thầy Mật
tông này xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn ở Bắc Ấn Độ và lớn lên ở Trung Á
(cha ngài là người Ấn Độ và mẹ ngài đến từ Suguda ở Đông Ba Tư), thường được nhận
hàng trăm cuộn lụa, hàng chục lá cờ lụa thêu và các vật phẩm bằng lụa khác như
tọa cụ, vì những lần thực hiện nghi lễ Mật tông của mình. Năm 746 CN, sau khi
ngài cầu mưa thành công, hoàng đế đã ban cho ngài hai trăm cuộn lụa cùng một
chiếc y lụa màu tím. Hoàng đế Huyền Tông đã đích thân khoác chiếc y lên vai ngài.
Khi ngài Pháp Hiển đến thăm Ấn Độ vào khoảng năm 399-414 CN, ngài
đã quan sát thấy việc sử dụng rộng rãi các lá cờ bằng lụa trong các nghi lễ Phật
giáo. Ví dụ, các lá cờ lụa được treo tại tịnh xá gần Xá-vệ (Sravasti) và được sử dụng trong đám rước
tượng Phật ở Hoa Thị thành (Pataliputra).
Một thế kỷ sau chuyến thăm Ấn Độ của Pháp Hiển, các nhà hành hương Tống Vân và Huệ
Sinh đã nhìn thấy "hàng chục nghìn lá cờ lụa được treo trên" một bảo
tháp ở Uzuntati, Trung Á. Chắc chắn rằng vào thế kỷ VII, khi Huyền Trang đến
thăm Ấn Độ, việc sử dụng cờ lụa trong các nghi lễ Phật giáo vẫn còn thịnh hành.
Các văn bản tiếng Sanskrit từ thời Gupta cho thấy rằng cờ lụa cũng được sử dụng
trong các nghi lễ phi Phật giáo và trong các dịp thế tục ở Ấn Độ.
Vào thế kỷ VII CN hoặc sau đó, việc giết tằm để lấy tơ đã trở
thành một vấn đề nan giải về mặt tôn giáo đối với các Phật tử Trung Quốc. Vào
thời Đức Phật và thời kỳ ngay sau đó, việc sử dụng tơ lụa không phổ biến trong
giới Tăng lữ và tín đồ Phật giáo. Trang phục của các Tăng sĩ thời đó được làm bằng
bông, chất liệu dễ kiếm nhất ở Ấn Độ. Từ thời Gupta (320-550 CN), tơ lụa trở
nên khá phổ biến ở Ấn Độ, và các Tăng sĩ Ấn Độ đã chấp nhận chúng mà không có
nhiều tranh cãi. Ngài Nghĩa Tịnh đã mô tả loại tơ lụa mà các nhà sư ở năm khu vực
của Ấn Độ sử dụng là "tơ thô", có nghĩa là loại tơ này được làm từ
kén tằm bị vỡ, giúp các nhà sư không mang tội giết tằm. Vải tơ lụa làm từ kén tằm
bị vỡ tại các trung tâm linh thiêng như Ba-la-nại (Benares) là loại vải có giá trị cao đối với người Hindu phái
Vaishnava (phái thờ Thần Vishnu) và những người Kỳ-na giáo.
Vào thế kỷ VII CN, người dân Kapisa (Afghanistan) rất khao khát
có được lụa Trung Quốc đến nỗi họ đã đổi cả những vật quý giá để lấy lụa. Mặc
dù lụa Trung Quốc được quý trọng, nhưng người cai trị vẫn sẵn lòng hiến tặng
chúng cho các mục đích tôn giáo. Một vị vua Kapisa từng tặng năm cuộn "vải
gấm lụa nguyên chất" cho ngài Huyền Trang. Những người hành hương Trung Quốc,
mặc dù tranh luận về việc các Tăng sĩ có nên mặc lụa hay không, đều nhận thức
rõ nhu cầu về lụa Trung Quốc và coi lụa là món quà tốt nhất để mang đến Ấn Độ.
Trong số những báu vật được tìm thấy trong bảo tháp của chùa
Pháp Môn tại thị trấn Pháp Môn, tỉnh Thiểm Tây, có một vài mảnh lụa tím thêu chỉ
vàng dùng bọc xương ngón tay của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Xá-lợi ở chùa Pháp
Môn thường xuyên được chư Tăng và hoàng đế mang ra đảnh lễ. Năm 1987, các cuộc
khai quật tại chùa Pháp Môn đã phát hiện những tấm bia đá khắc ghi các nghi lễ
và phẩm vật cúng dường. Theo một trong những dòng chữ khắc, sau khi thực hiện
nghi lễ tắm xá-lợi vào năm 649 CN, ngài Huệ Cung đã dâng cúng 3.000 cuộn lụa lên
xá-lợi vào năm 656 CN. Một dòng chữ khắc năm 874 ghi lại tất cả các lễ vật cúng
dường được thực hiện bởi các thế hệ hoàng đế, hoàng hậu, hoàng tử và những người
khác. Các nhà khảo cổ học thực sự đã tìm thấy hơn bảy trăm mảnh vải lụa được liệt
kê nơi bản chữ khắc, mặc dù hầu hết chúng đã bị cháy không thể phục hồi. Một
dòng chữ khắc có niên đại năm 741 từ một địa điểm thờ xá-lợi khác, chùa Thanh
Sơn, cho biết xá-lợi được bọc bằng những tấm lụa tuyệt đẹp.
Trong khi đảnh lễ xá-lợi xương đỉnh đầu của Đức Phật ở
Nagarahara (gần Jalalabad, Afghanistan), ngài Huyền Trang đã cúng dường 50 đồng
vàng, 1.000 đồng bạc, 4 lá cờ lụa, 2 mảnh gấm và 2 bộ y.
Khi đến chùa Mahabodhi ở Bodha Gaya, ngài Nghĩa Tịnh đã may một
chiếc y bằng vải lụa do chư Tăng và cư sĩ ở Sơn Đông cúng dường, kích thước giống
với kích thướng bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ở Bodha Gaya. Ngài cũng cúng dường
hàng chục nghìn tấm màn lụa mỏng cho ngôi chùa.
Vào đầu thời nhà Đường, hoàng đế Thái Tông thường xuyên phái sứ
thần đến chùa Mahabodhi ở Bodha Gaya để cúng dường những bộ y bằng lụa. Truyền
thống này tiếp tục đến thế kỷ XI, khi hai Tăng sĩ Trung Quốc thay mặt hoàng đế
nhà Tống dâng cúng một chiếc y cà-sa để trải lên tòa của Đức Phật ở chùa
Mahabodhi.
Ngay cả sau khi trở về Trung Quốc, các Tăng sĩ Trung Quốc vẫn gửi
lụa đến Ấn Độ thông qua các Tăng sĩ Ấn Độ. Trong sự nghiệp kéo dài qua hai triều
đại nhà Đường, ngài Huyền Trang đã nhận được hơn mười nghìn tấm lụa, từ lụa
trơn đến lụa gấm và lụa thêu, cùng với vài trăm bộ y áo. Nhưng ngài không bao
giờ tích trữ bất cứ thứ gì cho riêng mình. Ngoại trừ dùng chi tiêu cho việc xây
dựng tháp và làm tượng, ngài đã tặng những tấm lụa này cho người nghèo và
"các vị khách Bà-la-môn nước ngoài", tức các vị khách Ấn Độ. Có nhiều
Tăng sĩ Ấn Độ đã cư trú tại Trung Quốc vào thời nhà Đường. Nhiều ghi chép kể về
việc các hoàng đế đã ban thưởng vải lụa hoặc y áo bằng lụa cho những vị Tăng
này vì những đóng góp của họ trong việc truyền đạo, dịch thuật và thuyết pháp.
Ví dụ, ngài Parabhagramitra, một Tăng sĩ đến từ Trung Ấn, đã nhận được nhiều cuộn
lụa từ triều đình trong suốt sự nghiệp của mình ở Trung Quốc, bao gồm cả một
chiếc y được làm trong xưởng của cung điện.
Rõ ràng, tất cả những sự kiện lịch sử được đề cập ở trước đều chứng
minh mối liên hệ giữa lụa và Phật giáo, cũng như tầm quan trọng của mối liên hệ
này trong tín ngưỡng Phật giáo.
Lụa như một công cụ
ngoại giao ở Trung Quốc
Các nhà cai trị ở nhiều nơi trên thế giới, vì cả mục đích đối nội
và ngoại giao, đã cố gắng gây ấn tượng với thần dân và các nước láng giềng bằng
những hàng hóa quý hiếm; trong trường hợp của Trung Quốc, đó là lụa. Ngoài việc
giữ lại lụa chất lượng cao để sử dụng cho riêng mình, các hoàng đế nhà Hán cũng
tặng loại lụa này cho người nước ngoài vì mục đích ngoại giao. Từ thế kỷ II
TCN, Trung Quốc đã tham gia vào một cuộc chiến tranh kéo dài với một nhóm du mục,
người Hung Nô, dọc theo biên giới phía Tây Bắc. Hung Nô là một liên minh lỏng lẻo
gồm các bộ lạc du mục. Thiền Vu (單于), người đứng đầu liên minh Hung Nô, dựa vào hàng hóa xa xỉ như
lụa từ một xã hội định cư như Trung Quốc để giữ lòng trung thành của các thủ
lĩnh bộ lạc và dựa vào chiến tranh liên miên để duy trì sự đoàn kết của toàn bộ
liên minh.
Đối với lụa, đặc biệt là ở Trung Quốc cổ đại, đặc điểm rõ ràng
nhất là việc nó bị hạn chế trong suốt lịch sử, bởi nó chỉ dành cho tầng lớp thượng
lưu, hoặc do vì giá cả hoặc do pháp luật. Vì vậy, khi nhà Đường độc quyền và kiểm
soát việc sản xuất và buôn bán lụa, các hạn chế đối với lụa thượng hạng được thực
thi thông qua luật. Mục đích chủ yếu là chính trị. Ở Trung Quốc, có một bộ luật
về trang phục được ban hành để phân biệt các cấp bậc quan lại và hệ thống phân
cấp tu sĩ, qua đó củng cố trật tự chính trị. Ở đây, lụa có thể được coi là
phương tiện thể hiện sự khéo léo về mặt ký hiệu học, tức là khả năng truyền tải
những thông điệp xã hội khá phức tạp: những loại lụa thượng hạng chỉ dành cho giới
quý tộc chứ không phải thường dân! Trang phục của bạn xác định rạch ròi địa vị
xã hội của bạn theo luật định!
Chính quyền nhà Hán ở Trung Quốc cấm các thương nhân mặc lụa hoa
văn nhiều màu, lụa thêu và các loại vải cao cấp khác. Vì các chính quyền Trung
Quốc khác nhau sử dụng một lượng lớn lụa làm quà tặng cho người nước ngoài vì
lý do chính trị hoặc để đổi lấy hàng hóa nước ngoài có giá trị, nên họ cũng cố
gắng kiểm soát việc xuất khẩu mặt hàng này. Một chiếu chỉ năm 714 cấm bán cho
người nước ngoài các sản phẩm lụa tinh xảo nhất: lụa hoa văn nhiều màu, lụa thêu
hoa, lụa mịn và các loại lụa cao cấp khác. Khi nhà Đường xây dựng một hệ thống phong
kiến trên đống đổ nát của một thể chế chính trị tan rã và tàn dư của một tầng lớp
quý tộc suy đồi, họ đã tổ chức lại phong tục cũ quy định về trang phục của các
tầng lớp xã hội khác nhau thành một hệ thống giúp phân biệt tầng lớp quan lại mới;
dĩ nhiên, quần áo lụa được dành riêng cho hoàng gia và giới quý tộc.
Luật tạng Pāli và các giới kinh bằng tiếng Sanskrit quy định một
số điều kiện mà theo đó một Tỳ-kheo có thể nhận được sự cúng dường y áo. Các giới
kinh nói chi tiết hơn về y áo so với các bộ luật (vinaya), bởi vì xã hội và các sản phẩm dệt may vào những thế kỷ đầu
CN, khi các giới kinh bằng tiếng Sanskrit được biên soạn, phức tạp hơn nhiều so
với thời Đức Phật và sau đó, khi các giới luật bằng tiếng Pāli được thiết lập. Ngài
Nghĩa Tịnh vào thế kỷ VIII CN đã quan sát thấy rằng bốn bộ phái Phật giáo khác
nhau phân biệt nhau thông qua cách mặc hạ y và thắt lưng khác nhau.
Năm 648, hoàng đế Thái Tông tiếp kiến hai vị cao tăng nổi tiếng.
Cả hai đều mặc những chiếc y tinh xảo được thừa kế từ thầy của mình, những người
nhận được chúng từ Lương Vũ Đế (503-550). Hoàng đế nhận thấy những khuyết điểm
trên chiếc y và cho hai vị Tăng xem một bộ y tuyệt đẹp được làm trong xưởng của
cung điện. Cả hai vị Tăng đều bày tỏ mong muốn được nhận bộ y đó bằng cách sáng
tác thơ. Nhưng hoàng đế chỉ ban cho mỗi người 50 cuộn lụa và giữ lại y cho ngài
Huyền Trang. Ngài Huyền Trang cũng nhận được thêm một bộ y quý khác vào năm
656.
Từ giữa thời nhà Đường, y màu tím được coi là biểu tượng cao quý
nhất mà các Tăng sĩ có thể nhận được. Nhiều vị Tăng xuất chúng đã được triều
đình ban tặng y tía. Tại chùa Bảo Liên ở Trường An, một bức chân dung nổi tiếng
của Đức Phật Di Lặc cho thấy Ngài đang khoác y màu tím.
Ở Trung Quốc, các Tăng sĩ trước đó thường mặc vải bông mịn thay
vì lụa, loại vải phổ biến ở Trung Quốc, bởi vì giới luật Phật giáo cấm sử dụng
lụa do quá trình sản xuất liên quan đến việc sát hại tằm. Chính ngài Nghĩa Tịnh
đã thuyết phục các Tăng sĩ Trung Quốc chấp nhận lụa. Ngài lập luận rằng vì các
Tăng sĩ Ấn Độ đã sử dụng lụa, nên các Tăng sĩ Trung Quốc không cần phải bó buộc
mình vào loại vải bông mịn rất hiếm trong khi lụa dễ dàng có. Ngài Nghĩa Tịnh
cho rằng chỉ việc cố ý sát hại tằm mới tạo nghiệp ác. Ngài lập luận, "Nếu thí
chủ mang lụa đến cho các vị với thiện ý, các vị chỉ cần hoan hỷ nhận và mặc nó
để bảo vệ thân thể nhằm nuôi dưỡng công đức".
Giới kinh của Đại chúng bộ quy định rằng không một Tăng sĩ nào
được sở hữu ngọa cụ làm từ len cừu pha lụa, trong khi giới kinh của Căn bản
thuyết Nhất thiết hữu bộ quy định rằng một Tỳ-kheo không được sở hữu ngọa cụ
làm bằng lụa. Những quy định này có lẽ nhằm mục đích cấm các Tỳ-kheo sở hữu tài
sản đắt tiền hơn là phản đối việc sử dụng lụa. Tuy nhiên, cả hai phái đều không
có bất kỳ sự dè dặt nào đối với y phục bằng lụa. Không có gì lạ khi những lệnh
cấm đối với hàng hóa xa xỉ ở Trung Quốc cổ đại không thể ngăn cản người dân thường
sở hữu và thậm chí mặc những bộ quần áo lụa tuyệt đẹp. Sự phổ biến của lụa đã thúc
đẩy họ mong muốn sở hữu những loại lụa cao cấp, và do đó họ đã hợp pháp hóa đưa
lụa ra thị trường rộng lớn bên ngoài, vượt qua phạm vi nhỏ của các nhóm thượng
lưu ở Trung Quốc.
Dường như rằng không có luật lệ nào quy định về trang phục theo
địa vị chính thức hay xã hội ở Ấn Độ cổ đại và đầu thời trung cổ. Thực tế, việc một vị vua Ấn
Độ ban hành loại luật này là điều không thể, bởi vì cái gọi là luật, hay
pháp/dharma, chưa bao giờ được bất kỳ người cai trị Ấn Độ nào ban hành mà chỉ
được biên soạn và giải thích bởi các trường phái Bà-la-môn khác nhau dựa trên
luật lệ tập tục hiện hành. Trong khi các vị vua được cho là phải tuân theo và
thực thi pháp/dharma, thì chính hệ thống xã hội Bà-la-môn mới là cơ quan thực
thi tất cả các quy định do pháp/dharma đề ra. Tác phẩm Arthasastra và các chú giải của nó thì giống như những cuốn cẩm
nang chứa đựng kiến thức về cách cai trị dành cho các vị vua và các vị đại
quan hơn là những cuốn sách về pháp/dharma.
Cả Arthasastra lẫn các
các cuốn sách về pháp/dharma không thể bao quát hết các tập tục của toàn xã hội,
vì các Phật tử và những người Kỳ-na có những giới luật và hướng dẫn dành cho cư
sĩ. Trong các sách về pháp, có những quy định về cách ăn mặc trong các dịp lễ
nghi, nhưng không có những đề cập về chất liệu nào nên được sử dụng cho các hạng
người khác nhau. Arthasastra có đề cập
đến việc sản xuất vải dệt và nguồn gốc của chúng, nhằm phục vụ mục đích thuế,
nhưng không đưa ra lời khuyên nào về việc ai nên mặc gì. Ở Nam Ấn Độ, lụa được
sử dụng tự do bởi bất cứ ai có khả năng chi trả, ngay cả vào thời điểm các tác
phẩm bằng tiếng Tamil, như Shilappadikaram
và Manime kalai, được biên soạn. Shilappadikaram được viết vào cuối thời
kỳ văn học Tamil cổ đại, thời kỳ Sangam (thế kỷ III TCN đến thế kỷ III CN), còn
Manime kalai được viết bởi nhà thơ Phật
giáo Tamil Seethalai Saathanar và là văn bản Phật giáo bằng tiếng Tamil duy nhất
còn tồn tại từ thời kỳ Sangam.
Phật giáo như một động
lực thúc đẩy thương mại tơ lụa
Thương mại tơ lụa phát triển cùng với sự truyền bá Phật giáo từ Ấn
Độ sang Trung Quốc. Để thanh toán cho lụa Trung Quốc, Ấn Độ đã gửi đá quý và
các loại trang sức khác, cũng như trầm hương và gia vị sang Trung Quốc từ những
thế kỷ đầu CN.
Buôn bán tơ lụa đã mang lại lợi ích cho triều đại Kushana. Các
thành phố thịnh vượng nhờ thương mại nội địa và liên quốc gia dưới thời cai trị
của Kushana. Giá trị của các thương nhân hẳn có liên quan đến sự phát triển triết
học Phật giáo. Nhiều bản chữ khắc có niên đại từ thời Kushana ghi rằng những
người hiến cúng sẽ tạo nên công đức, từ đó mang lại hạnh phúc cho bản thân và
những người thân. Sự trỗi dậy của những giá trị thương mại này trong Phật giáo
song song với việc thể chế hóa các tu viện Phật giáo. Sự thịnh vượng của đô thị
đã mang lại sự thịnh vượng cho các ngôi chùa. Các thương nhân, thợ thủ công và
cư dân thành thị khác đã cúng dường hào phóng cho các ngôi chùa, từ đó tạo điều
kiện thuận lợi cho việc truyền bá Phật giáo.
Các tài liệu bằng tiếng Kharosthi có niên đại cuối thế kỷ III hoặc
đầu thế kỷ IV CN từ Trung Á cho biết rằng vải lụa và quần áo lụa được sử dụng
làm phương tiện thanh toán trong các giao dịch. Một ngôi chùa đã liệt kê các
khoản phạt bằng các cuộn lụa đối với các vị Tăng vi phạm nội quy. Vì ngôi chùa
là điểm dừng chân của những người hành hương và thương nhân, nên không có gì
đáng ngạc nhiên khi ngôi chùa và các Tăng sĩ lưu giữ lụa như tài sản của họ.
Các tài liệu Trung Quốc từ Turfan cũng ghi lại việc sử dụng các cuộn lụa làm tiền.
Ngành công nghiệp tơ lụa, từ nuôi tằm đến dệt vải, đã phát triển
mạnh mẽ ở Ấn Độ trong suốt thời kỳ Gupta. Sự giàu có của phường hội dệt lụa
Mandasor nổi tiếng là minh chứng cho sự thịnh vượng của ngành thương mại này.
Vào đầu thế kỷ VII, khi đến Ấn Độ, ngài Huyền Trang đã liệt kê tơ lụa là một
trong những chất liệu phổ biến nhất để may mặc trong nước.
Ở Ấn Độ cổ đại, thị trường nội địa cho lụa khá lớn. Người tiêu
dùng trải rộng từ những người thuộc tầng lớp quý tộc và tôn kính nhất đến những
người có địa vị xã hội thấp hơn; không có luật lệ hay sắc lệnh nào cấm thường
dân mặc lụa ở Ấn Độ như trường hợp ở Trung Quốc. Lụa được coi là đủ thích hợp để
may trang phục cho các vị thần. Trong Harsa
Carita (biên niên sử của vua Harshvardhana), Nữ thần Lakshmi được mô tả là mang
một chiếc khăn lụa trắng. Các vị vua và thành viên hoàng gia thích mặc lụa, điều
này được thể hiện rõ qua các loại vải thuộc của hồi môn xa hoa và đồ trang trí
đám cưới cho Rajyasri, em gái của vua Harsa. Nhưng người hầu, đặc biệt là người
hầu nữ, và những người có địa vị thấp như vũ công cũng có thể mặc lụa. Agrawala
trong tác phẩm Hành động của Harsha
đã xác định trang phục của cả thần mặt trời và vũ công là loại lụa stavaraka đắt
tiền của Ba Tư.
Kết luận
Mối liên hệ cổ xưa giữa Trung Hoa và Ấn Độ một mặt thể hiện sức
mạnh tinh thần của Phật giáo từ tiểu lục địa Ấn Độ, mang đến sự an ủi về mặt
tâm linh rất được hoan nghênh đối với người dân Trung Quốc, trái ngược với Nho
giáo dựa trên đạo đức cứng nhắc và duy lý đang thịnh hành ở Trung Quốc; mặt
khác, lụa từ Trung Quốc đã trở thành biểu tượng của đời sống tâm linh do được sử
dụng thường xuyên trong các nghi lễ Phật giáo. Việc sử dụng lụa thường xuyên
trong nghi lễ cũng góp phần vào sự chuyển đổi của vật liệu này từ một mặt hàng
hạn chế trở thành một mặt hàng thông dụng cho người dân Trung Quốc.
Cần nhấn mạnh lại rằng, ở Trung Quốc, khía cạnh tôn giáo của lụa
đã đảm bảo rằng bất chấp sự xa hoa và các sắc lệnh của triều đình, nó vẫn tìm
được đường đến tay người dân thường để sử dụng cho mục đích tôn giáo cũng như
cá nhân. Ở châu Á cổ đại, việc truyền bá Phật giáo và các cuộc hành hương tiếp
tục thúc đẩy các giao dịch lụa và do đó thúc đẩy thương mại lụa.
Tài liệu tham khảo:
-
G. Lubec et al, Nature, 4th March
1993.
-
Xinru Liu, Silk and Religion, Oxford
University Press, 1996.
-
Tripitaka v.53, 504a.
-
Fa-hsien (edited biography of
Fa-hsien, ed. Chang hsun), 1985.
-
Yang, Hsuan-chih, 266.
-
Hsuan-Tsang, 382.
-
Leggett, 1949, The Story of Silk (New
York: Lifetime Editions), 101.
-
Bayly, CA, 1986, “The Origins of Swadeshi (Home Industry): Cloth and Indian
Society, 1700-1930”, in The Social Life
of Things, ed. A. Appadurai. Cambridge University Press, pp.285-321.
-
Tripitaka v.54. 212c.
-
Hui-li & Yen-Tsung, Ta-ts'u-en-ssu
San-tsang-fa-shih Chuan (Biography of Hsuan-tsang), ed. Sun Yu-t'ang &
Hsieh Fang (Beijing: Chung-hua-shu-chu, 1983).
-
Tuan, Ch'eng-shih, Yu-yang Tsa-tsu
(Miscellaneous information), ed. Fang Nan-sheng (Beijing: Chung-hua Shu-chu, 1981).
-
Turfan v.2. 62-3.
-
Turfan v.6, 402, Ast. 4
-
Turfan v.6, 500, Ast. 201.
-
Hou, Jo-ping, 1989, “Fa-men-ssu Ti-kung Fa-hsien-te Chih-t'i chih T'a Ming”
(Inscription on the chaitya stupa found in the cell of Fa-men Monastery), Wen-po, vol.33. no.6, pp.88-9.
-
WANG Ts'ang-hsi, 1989, “Fa-men-ssu Kung-wu-chang Shih-I” (Interpretation of the
problems in the inscription of the inventory of donations in the Fa-men
Monastery), Wen-po, vol.33. no.4, pp.30-3.
-
Lo. Ch'ang-an, 1987, “A Great Number of Rare Relics Were Unearthed in Famen
Temple", Wen-po, vol.19. no.4,
pp.3-4.
-
Ta-T'ang Hsi-yu-ch'iu-fa-kao-seng-chuan,
77, 154.
-
Tripitaka v.50, 439c-440c.
-
Hsu Kao-seng-chuan, v.3.
-
Tripitaka v.50. 294b
-
Cunningham, Alexander, 1892,
Mahabodhi (London: H.W. Allen).
-
Chou Ta-fu, 1957, “Kai-cheng Fa-kuo Han-hsueh-chia Sha-wan tui Yin-tu ch'u-i'u
Han-wen-pei te Wu-shih” (A criticism on the interpretation by the French
sinologist Chavannes about the Chinese inscriptions excavated in India), Li-shih Yen-chiou, 1957, no.6.
-
Prebish, Charles S., 1975, Buddhist
Monastic Discipline, Pennsylvania State University Press.
-
Moti Chandra, Costumes, Textiles,
Cosmetics and Coiffure in Ancient and Medieval India, Delhi, 1973, pp.53.
-
Burrow. Thomas, 1940, A Translation of
Kharoshthi Documents from Chinese Turkestan, (London: The Royal Asiatic
Society, 1940).
Nguồn: academia.edu