Nét đặc trưng tư tưởng của Thiền phái Liễu Quán
net dac trung
Nét đặc trưng tư tưởng của Thiền phái Liễu Quán
Thích Nhuận Châu
Tóm tắt
Tư
tưởng thiền học Việt Nam phát triển qua các thiền sư Vạn Hạnh đời Lý,
qua Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử đời Trần. Đến ngài Liễu Quán, với sự
chứng ngộ và truyền thừa, cho thấy tư tưởng thiền học Việt nam có những
nét đặc sắc riêng biệt. Thiền học Liễu Quán vốn lưu xuất từ tinh tuý
giáo lý Phật-đà, vừa kế thừa tinh hoa từ các thiền phái Trung Hoa nên
trên quê hương Việt Nam, với truyền thống văn hoá dân tộc sâu đậm tính
nhân văn, trong bối cảnh đất nước phân ly, Phật giáo trong dòng tư
tưởng Thiền học Liễu Quán đã vận dụng thiện xảo tư tưởng Lục độ tập kinh, kinh Hoa nghiêm và
Trung quán (Mādhyamika) để phát triển một cách đặc sắc, tương ứng sự
hành hoạt trong một quốc độ có nền văn hoá dân tộc phong phú, tạo thành
sinh mệnh siêu việt cho Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ XVIII trở đi.
Từ khoá: Thiền học Việt Nam, chứng ngộ, Lục độ tập kinh, Kinh Hoa nghiêm. Trung quán. Thật tế, truyền thừa.

Bài
viết sẽ trình bày dẫn chứng tư tưởng Thiền học Liễu Quán thấm nhuần sâu
sắc tinh tuý Phật học, thể hiện qua lời đối đáp cơ phong giữa Thiền sư
Tử Dung và Ngài Liễu Quán, đồng thời qua Kệ truyền thừa của ngài. Những
chi tiết đó sẽ được phân tích trên tư tưởng các bộ kinh luận Đại thừa
(Mahāyāna) vốn thịnh hành vào thời đại của ngài. Đồng thời là sự dung
hoà, tổng hợp các pháp môn Thiền, Tịnh, Giáo, khiến đạo Phật Việt Nam
càng ăn sâu vào lòng dân tộc, lan tỏa đến gần 400 năm sau.
1. Tinh hoa giáo lý với nghĩa ‘Thật tế’ qua Kệ truyền thừa
Ngài
Liễu Quán vốn xuất gia với Hoà thượng Bổn sư Giác Phong, dòng Tào Động,
cùng niềm thao thức: “Có pháp gì cao siêu nhất, ta quyết bỏ thân mạng
theo pháp đó tu hành”.[1] Về sau Ngài đắc pháp với Thiền sư Tử Dung, dòng Lâm Tế.
Theo Kệ truyền thừa mà ngài Tử Dung thọ pháp từ Chùa Thiên Đồng ‘…Hạnh siêu minh thật tế…,
chúng ta thấy các Thiền sư Trung Hoa sang Việt Nam lúc nầy đều muốn
nhấn mạnh nghĩa ‘thật tế’, vốn là giáo lý cốt tuỷ trong tư tưởng Đại
thừa. Như ngài Minh Hải Pháp Bảo, truyền thừa phái Lâm Tế Chúc Thánh ở
Hội An, cũng biệt xuất dòng kệ: ‘Minh thật pháp toàn chương.’ Còn Kệ truyền thừa của ngài Liễu Quán, nghĩa ‘thật tế’ được nêu ra ngay hàng đầu.
Thật tế đại đạo/ Tánh hải thanh trừng.
‘Thật tế’ (s: bhūtakoṭi) chỉ cho “biên tế của sự thật”, được đề cập như một trong những từ đồng nghĩa của ‘pháp tính’ (dharmatā, hay ‘bản chất thực sự’ của các pháp). Theo Đại trí độ luận (Mahāprajñāpāramitopadeśa) chương XLIX, “vì pháp giới đã thực sự được chứng thật (bhūtena sākṣātkṛta) nên nó là đỉnh cao (koṭi) của thực tại. Như vậy, ‘bậc chứng ngộ được xác lập ở đỉnh cao của thực tại’.[2]
Khi hành giả đạt đến quả vị chứng ngộ (phalasākṣātkāra), người ấy đạt đến thật tế (bhūtakoṭi. […] Cũng như có một không phần 空分 (śūnya-bhāga) trong mỗi sắc pháp (rūpin), nên có bản chất niết bàn, gọi là pháp giới trong các pháp. Bản chất của niết bàn cũng nằm ở nhiều phương tiện thiện xảo (upāya) được sử dụng để đạt được niết bàn. Vào lúc chứng ngộ niết bàn, chân như (tathatā) và pháp giới là bhūtakoṭi. Cuối cùng, pháp giới là vô lượng (apramāna), vô hạn (ananta), không thể đo lường được bằng tâm và các tâm sở (cittacaitta), được gọi là pháp giới. Nó kỳ diệu đến mức được gọi là bhūtakoṭi.[3]
Từ điển Phật Học Đinh Phúc Bảo theo trích dẫn từ Đại trí độ luận để
giải thích ‘thật tế’ như sau: Thật Tế là lấy pháp tánh làm thật chứng
nên gọi là ‘tế’ (…), khéo nhập vào pháp tánh gọi là ‘thật tế’.[4] Phật Quang đại từ điển giải thích: “‘Thật tế’, chữ Phạn là bhūta-koṭi. Ý là sự chân thật cao nhất, tức chỉ cho thực chứng niết-bàn hoàn toàn xa lìa hư vọng, còn chỉ cho lý thể chân như.[5]
Như
vậy, ‘thật tế’ chính là bản thể chân như, cảnh giới tâm chứng tối cao
của bậc giác ngộ. Theo nghĩa đó, ‘thật tế’ chính là ‘đại đạo’. “Đại đạo
tức chứng đắc lý thể tuyệt đối.”[6]
Niềm
thao thức của ngài Liễu Quán từ khi tìm thầy học đạo, cho đến khi ngộ
đạo, rồi truyền đạo đã phát xuất từ ý nghĩa ‘thật tế’ cao tột nầy, mà
chính ngài thừa kế từ dòng kệ Chùa Thiên Đồng “…Hạnh siêu minh thật tế.”
Có
lẽ Thiền sư Tử Dung đã thấy được linh cơ mẫn tiệp nơi học trò mình nên
đã trao ngay công án: “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?”[7] Thoại
đầu đó như gợi ý, chỉ điểm. Ý niệm “một”, “hà xứ” chỗ nào, chắc hẳn
chẳng ngoài tâm, chẳng rời pháp giới nầy. Yếu chỉ “công án” đã có, ngài
chuyên tâm tham cứu ròng rã bảy, tám năm trời, cảm thấy hổ thẹn khi
chưa chứng ngộ nên càng tinh cần trong công phu tham cứu. Đến khi đọc Truyền đăng lục đến câu: “Chỉ vật truyền tâm, người không hiểu được,”[8] ngài
thấy tỏ ngộ phần nào. Đó chính là cảnh giới tự chứng từ tâm thể, lý
luận quy ước thế gian không thể nào diễn bày được. Nhưng dễ gì buông bỏ
những gì xưa nay đã ăn sâu trong tâm thức vốn đã thành tập khí ngàn
đời, giữa chân lý thế đế quy ước, vươn đến chân trời cao rộng của chân
lý tuyệt đối (chân đế) phải là một quyết định không phải ai cũng làm
được, chỉ những bậc xuất trần, khát khao tìm cầu con đường giải thoát
mới dám buông tay hố thẳm. Thiền sư Tử Dung biết tâm tư học trò Liễu
Quán lúc nầy đã có những tín hiệu chín muồi, nên khai thị mạnh mẽ, giục
dã, đầy tính quyết định hơn:
Hố thẳm buông tay
Tự mình cam chịu
Chết đi sống lại
Chẳng ai khinh dối.[9]
Đến
lúc nầy thì ‘Nhị đế dung thông tam-muội ấn”. Hành giả nhìn các hiện
tượng thế gian như nó đang trình hiện. Thấy núi là núi, thấy nước là
nước nhưng sơn hà đại địa lúc nầy bừng sáng trong tâm hành giả bằng
hiện thực sinh động của lý duyên sinh, chứ không bằng cái được mất của
cái thấy lúc đầu. Vì vậy, ngài Liễu Quán trả lời ngài Tử Dung: “Quả cân
vốn là bằng sắt”.[10] Đơn
giản vậy thôi. Nhưng ngài Tử Dung muốn đưa ngài Liễu Quán đến chỗ siêu
tuyệt hơn nên khích lệ bằng sự phủ nhận tối hậu. Khi ngài Liễu Quán
trình kiến giải cuối cùng, lúc nầy mới thật sự đã chạm ngõ ‘thật tế’.
Ngài Liễu Quán nói: “Nếu sớm biết đèn là lửa thì cơm chín từ lâu rồi.”[11]
Thì
ra Đại đạo chẳng có gì bí ẩn, chỉ cần quay về nhận rõ bản tâm của mình
vốn thanh tịnh sáng suốt, vốn đã đầy đủ mọi thể dụng. Như trước đó ngàn
năm lục tổ Huệ Năng đã từng thốt lên:
“Nào
ngờ đâu tự tánh vốn thanh tịnh, tự tánh vốn không sanh diệt, tự tánh
vốn đầy đủ hết thảy thiện pháp, tự tánh vốn không lay động, tự tánh
năng sanh vạn pháp…”[12]
Như
gạo bỏ vào nồi, nước vừa tầm, củi lửa đầy đủ, đến lúc cơm sẽ sôi và sẽ
chín. Một việc quá gần gũi với đời thường, với những chú điệu hằng ngày
trị nhật nấu cơm cho Tăng chúng trong chùa. Nhưng người đời thì thích
đi tìm, thích tư duy theo lề khái niệm quy ước nên tâm trí bị vặn tréo
lại. Quá trình khai ngộ của ngài Liễu Quán chỉ cho chúng ta cách mở
tung từng nút thắt tư duy hữu hạn, để trở về với Thật tế sinh động.
Để
đạt đến cảnh giới tâm chứng tối cao nầy, không thể bằng tư duy lý luận
thông thường mà có khi phải bằng luận lý phủ định, nghe ra có phần
nghịch lý nhưng mục đích nhằm triệt tiêu lối tư duy khái niệm vốn khiến
hành giả luôn bị đóng khung trong những quy ước phàm tình. Đó là cảnh
giới sở chứng của ngài khi trình kiến giải cho Thiền sư Tử Dung:
“Tảng đá mọc măng cao một trượng. Lông rùa làm chổi nặng ba cân”.[13]
Thiền sư Tử Dung đáp lại:
“Lung linh nước chảy qua đèo. Ngựa đua dưới biển, thuyền trèo trên non. Là cái gì?”[14]
Lúc
nầy Thầy trò hỏi đáp với nhau không còn là hỏi và trả lời như ước lệ
thường tình nữa mà lúc nầy là bản hợp tấu trong cung đàn giai điệu vô
thanh, với cung bậc của biện chứng pháp phủ định. Như giải thích về
nghĩa ‘thật tế’, “người ấy đạt đến thật tế (bhūtakoṭi) […] Cũng như có một ‘không phần’ (śūnya-bhāga, 空分) trong mỗi sắc pháp (rūpin), nên có bản chất niết-bàn, gọi là pháp giới trong các pháp. ‘Không phần’ lúc nầy chính là:
“Trâu đất gãy sừng thâu đêm rống. Đàn cầm dây đứt suốt ngày rung.”[15]
Theo Trung quán (Mādhyamika) đó là biện chứng phủ định của Bồ-tát Long Thụ (Nāgārjuna) nhằm phá vỡ những kiến giải quy ước, tà kiến, để dẫn về Đệ nhất nghĩa.
“… Biện chứng pháp, còn gọi là dịch hóa pháp, là sự vận hành của dòng tâm thức nhờ quán sát và phân tích hai phía thuận (pros) và nghịch (cons)
của một vấn đề mà phát hiện tịnh thức thấy biết những mâu thuẫn nội tại
đương nhiên hiện ra làm Lý tính sa lầy không giải quyết nổi và cuối
cùng bày giải phương cách thoát khỏi ngõ bí là vượt ngoài qui tắc của
Lý tính. Mục tiêu của biện chứng pháp Trung quán là nhằm khai thông con
đường Trung đạo đến trí Bát-nhã ba-la-mật, nhằm thức tỉnh giác quan nội
tại nơi phần sâu thẳm trong thể tánh hầu thực chứng tánh Không. Nói
cách khác, biện chứng pháp Trung quán có vai trò giáo hóa chỉ đường
thức tỉnh (sambodhi; giác ngộ) tức chuyển y (parāvritti).
Chỉ khi nào vứt bỏ hẳn lối giải thích hiện hữu với cách phân tích nhị
nguyên hữu và vô, A và phi A thời bản tướng của như thực tính (yathābhūtatā) mới hiển lộ. Chính là lúc tánh Không tức A = phi A được “thấy” một cách trung thực (yathābhūtatāṃ).”[16]
Cảnh
giới chứng ngộ của ngài Liễu Quán rất cao, quá siêu việt, dường như
thâu tóm toàn bộ tinh tuý giáo nghĩa Phật pháp. Có thể nói điểm khác
biệt đặc sắc của thiền Liễu Quán khác với thiền Trung Hoa là ở tâm
chứng nầy nên đã khai sinh một dòng tư tưởng Thiền học Việt Nam thịnh
hành suốt gần 400 năm.
2. Từ kinh điển Phật giáo
2.1. Tư tưởng Lục độ tập kinh qua Giới định phước huệ
Xuất phát từ Lục độ tập kinh, được
dịch đầu tiên ở Việt Nam do ngài Khương Tăng Hội. Đó là bản kinh hầu
như định hướng cho Phật giáo Việt nam vào thời kỳ Phật giáo mới du
nhập. Nội dung bản kinh là Bồ-tát đạo, nền tảng của tư tưởng Phật giáo
Đại thừa. Mở đầu cho Lục độ là Bố thí, là điều mà ai tu cũng được, tầng
lớp nào cũng có thể dự phần vào đạo Phật. Từ đó đạo Phật được lan toả,
bám sâu vào lòng dân tộc, tạo nên một sức mạnh để dựng nước và giữ nước.
“…Lục độ tập kinh như
nhan đề chỉ ra, là một tập kinh trình bày sáu hạnh vượt bờ của Bồ tát,
tức bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Lý
tưởng Bồ tát trong thời kỳ đầu của Phật giáo ở nước ta, do thế, đã được
xiển dương mạnh mẽ, đề cao những con người có lòng thương rộng lớn đối
với tất cả người vật (bố thí), tự mình kiểm soát lấy mình (trì giới),
kiên trì chịu đựng gian khổ khó khăn (nhẫn nhục), năng động phấn đấu
hoàn thành mục tiêu đã định (tinh tấn), bình tĩnh (thiền định) và sáng
suốt (trí tuệ). Mẫu người lý tưởng của Phật giáo, mẫu người có lòng
thương, có kỷ luật, kiên trì, năng động, bình tĩnh và sáng suốt, được
định hình, và kế hoạch thể hiện mẫu người này trong cuộc sống được vạch
ra thông qua khuôn khổ các câu chuyện tiền thân của đức Phật, cho các
Phật tử Việt Nam thời Khương Tăng Hội và trước đó.”[17]
Cho nên chữ phước xuất hiện trong Kệ truyền thừa (giới định phước huệ) không phải chỉ để làm cân đối cấu trúc câu chữ,[18] mà
có ý nghĩa khá thâm sâu. Ngài Liễu Quán vốn thấm nhuần được đạo lý nầy
nên đã bổ sung cho công hạnh tu trì, bên cạnh Tam vô lậu học Giới Định
Huệ, thì phải có thêm hạnh Lục độ. Trong Lục độ ba-la-mật, năm độ trước
thuộc về phước đức trang nghiêm, tức tu phước, tích tập phước đức để
trang nghiêm cho bản thân. Trí huệ độ thứ 6, thuộc về trí huệ trang
nghiêm, tức trau dồi trí huệ để trang nghiêm tự thân. Đó là ý nghĩa
phước trí nhị nghiêm. Kinh Niết-bàn nói:
“… đầy đủ hai loại trang nghiêm: một là trí tuệ, hai là phước đức. Nếu
vị Bồ-tát nào có đầy đủ hai loại trang nghiêm như vậy thời biết Phật
tánh, lại cũng biết rõ sao gọi là Phật tánh…”[19]
Lại nữa, theo Kệ truyền thừa của chùa Thiên Đồng, nơi xuất thân của Minh Hoằng Tử Dung: “Tổ đạo giới định tông. Phương quảng chứng viên thông.” Ngay câu đầu nói lên tông chỉ Phật Tổ đều chú trọng giới định; câu tiếp theo nói đến Phương quảng[20],
là chỉ cho giáo lý Đại thừa sơ kỳ, tức hệ Ma-ha-bát-nhã-ba-la-mật, chỉ
cho Huệ. Có đầy đủ Giới Định Huệ thì mới dẫn đến viên thông theo tư
tưởng Đại thừa.
Nhưng
đến ngài Liễu Quán, hành trạng tu tập được bổ sung thêm Phước, tức hạnh
lục độ ba-la-mật. Viên thông hay viên dung, đến đây trọn vẹn viên mãn
như ý nghĩa ‘Thể dụng viên thông’, hay ‘Sự sự vô ngại pháp giới’ trong
tư tưởng Kinh Hoa nghiêm.
2.2. Tư tưởng kinh Hoa nghiêm qua ‘Thể dụng viên thông’
Thể Tướng Dụng là điểm đặc sắc của triết lý kinh Hoa nghiêm.
Lục tướng là sáu mối liên hệ giữa cái toàn thể và cái riêng lẻ trên ba
mặt Thể, Tướng, Dụng, được Pháp Tạng giải thích như sau:
Tổng tướng (總相): toàn bộ các chi tiết làm thành một tướng trạng thống nhất.
Biệt tướng (別
相): nói về các phần nhỏ của một Tổng tướng, các chi tiết đó đều khác
với Tổng tướng, mỗi mỗi bộ phận đều có chức năng khác hẳn với Tổng
tướng.
Hai dạng “Tổng biệt” nói về mối tương quan về mặt nguyên lý giữa cái đơn lẻ và cái toàn thể (體; Thể).
Đồng tướng (同相): tuy các bộ phận khác nhau nhưng chúng lại hòa trong một Tổng tướng, liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau.
Dị tướng (異相): các bộ phận khác nhau là khác nơi tướng trạng của chúng.
Hai dạng “đồng dị” này nói về mối tương quan nơi mặt tướng trạng giữa bộ phận và toàn thể (Thể).
Thành tướng (成相): sự kết hợp giữa các bộ phận để thành tổng thể.
Hoại tướng (壞 相): mỗi bộ phận tuy là một phần của tổng thể nhưng lại có thế giới và nơi chốn riêng biệt của mình.
Hai dạng “thành hoại” chỉ rõ mối liên hệ của toàn thể và cái đơn lẻ trong hoạt động và tác dụng của chúng (dụng 用).[21]
Trong Pháp bảo đàn kinh, Lục tổ có nêu ra điểm nầy để phân tích mối liên hệ giữa Thể (Thật tế/ Chân như) và Dụng (Vô niệm).[22]
“Thiện
tri thức, Vô là Vô việc gì? Niệm là Niệm vật gì? Vô là vô nhị tướng
(pháp đối đãi), Vô tất cả tâm trần lao. Niệm là niệm chơn như bản tánh.
Chơn như là thể của Niệm, Niệm là dụng của chơn như. Chơn như tự tánh
khởi niệm, chẳng do nhãn nhĩ tỷ thiệt năng niệm, chơn như có tánh cho
nên khởi niệm, nếu chơn như không tánh thì nhãn nhĩ sắc thanh ngay đó
liền hoại.” (Phẩm Định huệ thứ tư)
Và tính viên dung nhất thể của Định Huệ
“Định
Huệ vốn nhất thể, chẳng phải là hai. Định là thể của Huệ, Huệ là dụng
của Định, ngay trong lúc huệ có định, ngay trong lúc định có huệ, thấu
được nghĩa này tức là định.” (Phẩm Định huệ thứ tư)
Nhưng ngài Liễu Quán đưa thêm phước vào, khiến nghĩa dung thông mang ý nghĩa trọn vẹn hơn.
Lại nữa, khi đưa ý nghĩa Lục độ (phước)
vào, tạo thành sự quân bình giữa hai quan niệm về Giới Định Huệ của hai
hệ A-hàm và Đại thừa (Mahāyāna), một bên ‘nhân giới sinh định, nhân
định phát huệ’ và một bên ‘tức giới tức định tức huệ’. Yếu tố phước đã tạo nên tính dung thông nầy.
2.3. Trung quán (Mādhyamika)
Tư
tưởng Trung quán thấm đẫm trong công phu tu chứng cũng như qua Kệ
truyền thừa của ngài Liễu Quán. Như trong câu sau cùng của Kệ truyền
thừa ‘đạt ngộ chân không’ (達悟真空).
Chân không (śūnyatā) chính là Trung đạo (Mādhyama), là Duyên khởi (pratītya-sāmutpāda). Đỉnh cao của Kệ truyền thừa chính là thể chứng Trung đạo, như hai kệ tụng của Trung luận nói:
“Các
pháp do duyên khởi (pratītyasamutpāda), nên ta nói là Không (sūnyatā),
là Giả danh (upādāya-prajnapti), và cũng chính là Trung đạo (madhyamā
pratipat).”
“Chưa từng có một pháp, chẳng từ nhân duyên sanh. Thế nên tất cả pháp, không gì chẳng phải Không.[23]
“Trong
bài tụng XXIV.18 là rõ rệt có một sự sắp đặt các danh từ Duyên khởi,
Không, Giả danh, và Trung đạo theo một thứ tự trước sau nhất định. Thứ
tự đó liên kết các danh từ ấy với nhau theo tiến trình luận lý áp dụng
trong mệnh đề ‘Sắc tức thị Không, Không tức thị sắc’ của Tâm kinh.”[24]
Điều nầy thể hiện rõ nét qua kệ thị tịch của ngài Liễu Quán:
“Hơn bảy mươi năm trong thế giới
Không không, sắc sắc đều dung thông
Đến nay nguyện mãn trở lại nhà
Nào cần đi khắp hỏi tổ tông.”[25]
Đây
chính là sinh mệnh của Thiền tông Việt nam, tổng hợp những gì tinh tuý
nhất, hoá giải những dị biệt khiến niềm tin Phật pháp suy yếu.
3. Dung thông các pháp môn
Tư
tưởng Thiền học Việt Nam qua Thiền sư Liễu Quán còn có điểm đặc sắc là
tinh thần dung thông các pháp môn qua ý nghĩa ‘Hành giải tương ưng’
(行解相應) trong Kệ truyền thừa.
Giải tức triệt ngộ về phần lý tánh, còn Hành là phần dụng, tức sự tướng. Hai lĩnh vực phải song đôi. Tổ Quy Sơn dạy:
“Chỗ
lý thật tế không dính một mảy bụi. Trong cửa muôn hành, không bỏ một
pháp. Nếu được vậy, đơn đao vào thẳng, thời tình chấp phàm hoặc Thánh
đều chấm dứt, cái thể biểu lộ ra tánh chân thường, lý và sự không hai,
chính là cái như như của Phật”.[26]
Giống như ở trên, ngài Liễu Quán đã dùng phước để quân bình Giới Định Huệ.
Thiền pháp phái Lâm Tế vốn đặt nặng cơ phong đối đáp với những chất liệu sinh động “đánh, hét” – Lâm Tế hát, Đức Sơn bổng.
Đối với phong thổ văn hoá Việt Nam, chư Tổ Trung Hoa dã có sự vận dụng
để thích nghi truyền pháp. Nên công án mà ngài Minh Hoằng-Tử Dung trao
cho Tổ Liễu Quán và sự ấn chứng đắc pháp theo truyền thống Thiền tông
Trung Hoa nói chung, rất nhẹ nhàng, lại mang dấu ấn sinh hoạt đời
thường, chùa nào cũng thế, nhà nào cũng thế, đói thì ăn cơm, mệt thì
ngủ, như dòng thiền Trúc Lâm trước đó đã có (Cơ tắc xan hề khốn tắc miên), nên Kệ truyền thừa Liễu Quán ít mang ẩn ngữ đặc thù của thiền pháp Lâm Tế. Nhờ Hành giải tương ưng mà
các tông phái Phật giáo Việt Nam đã có sự dung hoà một cách mật thiết.
Có thể nói rằng các ngôi chùa Việt Nam thiền phái Liễu Quán hay Chúc
Thánh, ít có sự cục bộ hay cực đoan, dẫn đến loại trừ hay khu biệt chư
Tăng tu pháp môn mà mình không tu tập. Thời công phu của các ngôi chùa
thiền phái Liễu Quán có đủ cả các pháp môn Thiền-Tịnh-Mật. Chư Tăng có
thể thọ pháp từ thiền phái khác như đã được ghi nhận qua pháp tự truyền
thừa của các vị đó. Do vậy nên thiền phái Liễu Quán đã khiến cho Phật
pháp Đằng Trong đã phát triển đến gần 400 năm sau.
4. Kết luận
Đối chiếu 2 bài Kệ truyền thừa: một là của Tổ Vạn Phong Thời Uỷ chùa Thiên Đồng, Lâm Tế pháp phái đời thứ 21 xuất kệ: “Tổ Đạo Giới Định Tông. Phương Quảng Chứng Viên Thông. Hành Siêu Minh Thật Tế. Liễu Đạt Ngộ Chơn Không.”[27]
Hai là Kệ truyền pháp danh của Tổ Minh Hải Pháp Bảo: “Minh thật pháp toàn chương. Ấn chân như thị đồng. Chúc thánh thọ thiên cữu. Kỳ quốc tộ địa trường.”[28]
Và
ba là của Thiền sư Liễu Quán, ta sẽ thấy tính biện chứng và tính thực
tiễn của dòng kệ Liễu Quán rất rõ nét, điều đó chứng tỏ Thiền sư Liễu
Quán đã kế thừa trọn vẹn tư tưởng chủ đạo của Thiền phái Lâm Tế nhưng
vận dụng tư tưởng Lục độ tập kinh, Kinh Hoa nghiêm và
Trung quán để phát triển một cách đặc sắc, khế hợp cho sự hành hoạt
trong một quốc độ có nền văn hoá dân tộc phong phú. Đó cũng là ý nguyện
của Ngài, tuy đối với Thiền sư là ‘vô công dụng hành’ nhưng với tâm hồn
của người dân Việt, thiền sư Liễu Quán đã định hướng cho dòng thiền
Việt Nam tiếp nối được mạch nguồn tuệ giác để tạo nên sử tính văn hóa
Việt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Hồng Dương Nguyễn Văn Hai (Phật lịch 2545), Tìm hiểu Trung luận nhận thức và không tánh, Nguyệt san Phật học Xuất bản.
- Thích Duy Lực dịch và lược giải (1992), Phẩm Định huệ thứ tư, Từ Ân Thiền Đường, Santa Ana Xuất Bản.
- Pháp bảo đàn kinh, Đại chính tạng T48.
- Lê Mạnh Thát (2000), Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam, Nxb. Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Lê Mạnh Thát (2005), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Lang (tái bản, 1994), Việt Nam Phật giáo sử luận, Hà Nội: Văn Học, 3 tập.
- Nguyễn Hiền Đức (1995), Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Nxb. Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, 2 tập.
- Daisetz Teitaro Suzuki (1992), Thiền luận, Nxb. Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Tập san Liễu Quán, số 01/2014.
- Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm (2001), Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb. Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Thích Hải Ấn, Thích Trung Hậu (2010), Chư tôn thiền đức Phật giáo Thuận Hóa, Nxb. Văn hóa Sài Gòn.
- Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại Kỷ sự, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, Viện Đại học Huế.
- Thích Thanh Từ (1992), Thiền sư Việt Nam, Nxb. Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Thích Mật Thể (194), Việt Nam Phật giáo sử lược, Hội Tăng Ni Bắc Việt ấn hành.
- Thích Như Tịnh (2009), Lịch sử truyền thừa thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, NXB Phương Đông.
[1] 心常思惟:何法最為第一,我決捨身命,依法修行。(Văn bia)
[2] https://www.wisdomlib.org/definition
[3] Bản dịch và nghiên cứu Đại tập đại hư không tạng Bồ-tát sở vấn; A Study and Translation of the 大集大虛空藏菩薩所問經 Gaganagañjaparipṛcchā. https://www.wisdomlib.org/definition
[4] 「實際者以法性為實證,故為際。(中略)善入法性,是為實際。」
[5] 梵語 bhūta-koṭi。真實際極之意。即指絕離虛妄之涅槃實證;又指真如之理體。
[6] Diệu kinh văn cú tư chí ký《妙經文句私志記》卷4〈從經王城終皆是阿羅漢釋位義〉:「大道者即證極理體也」(CBETA 2023.Q3, X29, no. 596, p. 228b23-24 // Z 1:45, p. 413b5-6 // R45, p. 825b5-6)
[7] 萬法歸一;一歸何處 Vạn pháp qui nhất, nhất qui hà xứ?
[8] Cảnh Đức Truyền đăng lục《景德傳燈錄》卷27〈禪門達者雖不出世有名於時者.南獄慧思禪師〉:「指物傳心人不會 Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội」(CBETA 2023.Q3, T51, no. 2076, p. 431b13)
[9] 懸崖撒手,自肯承當。絕後再甦,欺君不得 Huyền nhai tán thủ. Tự khẳng thừa đương. Tuyệt hậu tái tô. Khi quân bất đắc.
[10] 秤錘原是鐵 Xứng thùy nguyên thị thiết.
[11] 早知燈是火,飯熟已多時 Tảo tri đăng thị hỏa, phạn thực dĩ đa thời.
[12] 《六祖大師法寶壇經》〈1 行由〉:「何期自性,本自清淨;何期自性,本不生滅;何期自性,本自具足;何期自性,本無動搖;何期自性,能生萬法。」(CBETA 2023.Q3, T48, no. 2008, p. 349a19-21)
[13] 石筍抽倏長一丈,龜毛拂子重三斤. Thạch duẩn trừu điều trường nhất trượng, Qui mao phất tử trọng tam cân.
[14] 高高山上行船深深海底走馬, 又作魔生? Cao cao sơn thưng hành thuyền, thâm thâm hải để tẩu mã, hựu tác ma sinh?
[15] 折角泥牛撤夜吼, 沒絃琴子沒盡日彈. Chiết giác nê ngưu triệt dạ hống, một huyền cầm tử tận nhật đàn.
[16] Hồng Dương Nguyễn Văn Hai, Tìm hiểu Trung luận Nhận thức và Không tánh, Nguyệt San Phật Học xuất bản – Phật lịch 2545
[17] Lê Mạnh Thát (2000), Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, tập 1.
[18] http://langmai.org/phapduong/phap-thoai-phien-ta/truyen-thua-cua-phai-lieu-quan
[19] 《大般涅槃經》卷25〈23 師子吼菩薩品〉:「…則為具足二種莊嚴:一者、智慧,二者、福德。若有菩薩具足如是二莊嚴者則知佛性,亦復解知名為佛性…」(CBETA 2023.Q3, T12, no. 375, p. 767b16-18)
[20] S: vaipulya; Hán âm: tì-phật-lược (毗佛略); nghĩa: Phương quảng (方廣), Phương đẳng (方等), Quảng đại (廣大)
[21] Tỉ-khưu Pháp Tạng, đời Đường, Hoa nghiêm Kim sư tử chương 華嚴金師子章, còn gọi Kim sư tử chương, Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kim sư tử chương. Luận, 1 quyển, Đại chính tạng, T45n1881.
[22] Thích Duy Lực dịch và lược giải (1992), Phẩm Định huệ thứ tư, Từ Ân Thiền Đường, Santa Ana Xuất Bản.
[23] 《中
論》卷4〈24 觀四諦品〉:「眾因緣生法,我說即是無,亦為是假名,亦是中道義。未曾有一法,不從因緣生,是故一切法,無不是空者。Chúng
nhân duyên sinh pháp, ngã thuyết tức thị vô, diệc vi thị giả danh, diệc
thị trung đạo nghĩa. (18) Vị tằng hữu nhất pháp, bất tùng nhân duyên
sanh, thị cố nhất thiết pháp, vô bất thị không giả (19)」(CBETA 2023.Q3,
T30, no. 1564, p. 33b11-14)
[24] Hồng Dương Nguyễn Văn Hai, Tìm hiểu Trung luận nhận thức và không tánh, Nguyệt San Phật Học Xuất Bản – Phật lịch 2545.
[25] 七
十餘年世界中。空空色色亦融通。今朝願滿還家裏。何必奔縵問祖宗 Thất thập dư niên thế giới trung, Không
không sắc sắc diệc dung thông, Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý, Hà tất
bôn mạn vấn tổ tông.
[26] 《潭
州溈山靈祐禪師語錄》:「實際理地。不受一塵。萬行門中。不捨一法。若也單刀直入。則凡聖情盡。體露真常。理事不二。即如如佛。」(CBETA
2023.Q3, T47, no. 1989, p. 577c9-12) “Chỗ lý thật tế không dính một mảy
bụi. Trong cửa muôn hành, không bỏ một pháp. Nếu được vậy, đơn đao vào
thẳng, thời tình chấp phàm hoặc Thánh đều chấm dứt, cái thể biểu lộ ra
tánh chân thường, lý và sự không hai, chính là cái như như của Phật.”
[27] 祖道戒定宗, 方廣證圓通, 行超明實際, 了達 悟真空
[28] 明實法全彰, 印真如是同, 祝聖壽天久, 祈國祚地長.