Tìm hiểu Duy thức tánh trong Thành Duy thức

timhieuve

 

 

Thích Nhuận Giác

           

 Duy thức học là môn tâm lý học Phật giáo trình bày thực tướng của vũ trụ nhân sinh. Hành giả khi đi vào nghiên cứu học tập và thực hành môn Duy thức có thể vượt qua được lớp sương mù ảo ảnh để trở về với thực tại tối hậu chính là chân Duy thức tánh.

            Sau khi Duy thức trình bày về Duy thức tướng, liền trình bày về Duy thức tánh, để chúng ta nhận ra bản chất của thực tại, từ đó có thể tiến hành tu tập để thể nhập chân lý tối hậu. Duy thức tánh được nói đến gồm: Tam tự tánh, Tam vô tánh và Duy thức thật tánh.

            Thực ra thế giới của vọng thức và thế giới của chân tâm chỉ là một, không cần phải loại bỏ đi thế giới của vọng thức mà chỉ cần "xoay đầu trở lại" thì thế giới của chân tâm hiện bày và thế giới của vọng thức ẩn tàng. Để hiểu rõ hơn về Duy thức tánh được trình bày trong Thành Duy thức luận, người viết xin đi vào phần trình bày chi tiết.

1. Tổng quan quá trình hình thành và phát triển của Duy thức

1.1. Định nghĩa Duy thức

            Duy thức, tiếng Phạn là Vijnana hay Vijnapti, có nghĩa là phân biệt, nhận thức, thường được dịch là thức, có khi được dịch là biểu biệt, tức biểu thị hay hiển thị sự phân biệt.

        Thành duy thức luận giải thích rằng tất cả đều do thức biến:

            Thị chư thức chuyển biến

             Phân biệt sở phân biệt

             Do thử bỉ giai vô

             Cố nhất thiết duy thức.

            Do thức chuyển biến nên sinh ra cái năng phân biệt và sở phân biệt. Chuyển biến ba nghĩa: 1. Biến hiện, chỉ cho sự chuyển biến của thức, là nhân nơi sự vận chuyển mà biến đổi, nhân nơi biến đổi mà hiện hữu; 2. Biến dị: biến có nghĩa là sinh khởi, dị có nghĩa chẳng giống, tức là do Tự chứng phần nơi tự thể của thức sinh khởi ra kiến phần và tướng phần, mà kiến phần và tướng phần được sinh ra này chẳng giống với tự thể của thức; 3. Cải chuyển: do tự thể của thức cải biến chuyển thành kiến phần và tướng phần nên có ngã tướng và pháp tướng nhiều vô số.

            Năng phân biệt là công năng phân biệt để hiểu biết, là chủ thể hiểu biết, tức là chỉ cho kiến phần (phần tác dụng) của các tâm thức. Sở phân biệt là chỗ phân biệt để hiểu biết, là đối tượng hiểu biết, tức là chỉ cho tướng phần  (phần hình tướng) của các pháp.

             ‘‘Thử’’ ở đây chỉ cho kiến phần năng duyên và tướng phần sở duyên. “Bỉ” chỉ cho căn thân, khí giới, vô số ngã tướng và pháp tướng. Do vì các tâm thức chuyển biến để hiểu biết, cho nên các năng phân biệt và sở phân biệt đều hiện khởi để có mặt trong thế gian. Nếu như các tâm thức không chuyển biến thì các năng phân biệt và sở phân biệt đều hoàn toàn không có mặt trong thế gian. Cho nên tất cả đều gọi là duy thức.

            Thành duy thức viết: Duy nghĩa là ngăn chặn ngoại cảnh chẳng phải có, thức là biểu thị tâm tâm sở chẳng phải không. Cho nên hết thảy các pháp hữu vi hay vô vi, hoặc thật hoặc giả đều không tách rời khỏi thức cho nên gọi là duy thức.

            Bên cạnh đó, luận Thành Duy thức nói: Duy thức là duy cái biết, do cái biết hoặc y nơi cái biết (bỉ y thức sở biến). Duy thức có ba nghĩa: 1. Giản trì: giản là loại bỏ hai loại chấp ngã và pháp, trì là quán Y tha khởi và đạt Viên thành thật; 2. Quyết định: vì nhận thức được Y tha khởi nên quyết định có thức tánh; 3. Hiển thắng: các thức tâm vương rất nhạy cảm và có khả năng biết một cách sáng suốt với thiền định.

            Thức có năm nghĩa: 1. Thức tự tướng, chỉ cho 8 thức tâm vương; 2. Thức tương ưng: chỉ 6 vị tâm sở (51 tâm sở); 3. Thức sở biến: hai loại kiến phần và tướng phần; 4. Thức phần vị: chỉ 24 bất tương ưng hành; 5. Thức thật tánh: chơn như thật tánh.

            Hai nghĩa này luôn có mặt trong nhau nên gọi là duy thức. Lại nữa, thức là một trong các pháp, nhưng thức có năng lực đặc biệt là phân biệt biết được cái khác và tự biết được mình. Nó là chủ lực ở trong mỗi chúng sinh. Các pháp khác không có năng lực này, chỉ có thức mới có năng lực này nên mới nói là duy thức.

            Thêm nữa, duy nghĩa là giản biệt, ngăn không có ngoại cảnh; thức nghĩa là liễu giải, biểu thị có nội tâm. Nói duy thức chính là đưa ra lời khai thị, thức tỉnh mỗi người hãy tự giác, nhìn lại cái thiên biến vạn hóa ở ngay trong mình để gạn lọc nó, trau dồi nó, tu tập chuyển hóa nó thành trí tuệ quang minh.

1.2. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Duy thức tông

            Khoảng 900 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, Phật giáo xuất hiện hai nhà tư tưởng là Vô Trước (310-390) và Thế Thân (320-400). Hai ngài đã lập ra Duy thức học, trở thành một trong những tông phái lớn của Phật giáo Đại thừa Ấn Độ.

            Khi mới xuất hiện, Duy thức được gọi là tông Du-già (Yogācārin). Ngài Thế Thân đã đặt tên cho trường phái này là Duy thức, tức đặt mọi sự hiện hữu của ngoại cảnh nơi thức. Sau khi Ngài Thế Thân qua đời, từ cuối thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ VI, tư tưởng Duy thức được nhiều luận sư và học giả nghiên cứu, phát triển, trong đó phải kể đến các vị Đại luận sư sau:

            Hộ Pháp (439-507), người có công truyền bá Duy thức sau khi Thế Thân qua đời; trung tâm lớn nhất lúc bấy giờ là Đại học Na-lan-đà.

            Đức Huệ, người sáng lập trung tâm Valabhi, song song với Na-lan-đà, được xem là một trong hai trung tâm lớn nhất, tập trung nghiên cứu Duy thức.

            An Huệ sống vào khoảng thế kỷ IV, ở miền Nam Ấn Độ. Ông đã chú thích bộ Duy thức tam thập tụng để tuyên dương giáo nghĩa của Duy thức. An Huệ có ý muốn dung hòa quan điểm "thực tướng" của Long Thọ với quan niệm "nhất thiết duy tâm tạo" của Duy thức.

            Trần Na và Pháp Xứng là hai luận sư kết hợp Duy thức với Kinh lượng bộ, lập ra môn Nhân minh học nổi tiếng của Ấn Độ và Phật giáo, với cách tranh luận bằng Nhân minh để đả phá các học thuyết ngoại đạo và phát triển Chánh pháp. Đây là một phương pháp tranh luận bằng lý luận và lô-gic.

            Vào thế kỷ VII đời vua Đường Thái Tông, Ngài Huyền Trang sang du học ở Ấn Độ. Trải qua thời gian học tập, Ngài đã tiếp nhận toàn bộ giáo lý Duy thức, đặc biệt là Duy thức tam thập tụng của Thế Thân. Sau khi về nước, ngài Huyền Trang dịch sang Hán ngữ các tác phẩm của Duy thức và đặt tên gọi mới là Thành Duy thức luận, đồng thời viết tác phẩm Bát thức quy c - trình bày tiến trình diễn biến nhận thức của tâm lý con người thông qua tám thức. Từ đó, Duy thức tông hay Pháp tướng tông phát triển rực rỡ tại Trung Hoa.

            Học trò xuất sắc của Huyền Trang là Khuy Cơ đã dịch Duy thức nhị thập tụngDuy thức tam thập tụng ra Hán ngữ, hệ thống hóa lại tư tưởng của Duy thức. Ông viết nhiều bộ luận, tiêu biểu là bộ Thành Duy thức luận thuật ký.

            Những kinh luận mà Duy thức học lấy làm căn cứ trực tiếp trong quá trình thành lập trường phái này bao gồm 6 kinh và 11 luận.

            Sáu kinh gồm: Hoa nghiêm, Giải thâm mật, Như Lai xuất hiện công đức trang nghiêm, A-tỳ-đạt-ma, Lăng-già, Hậu nghiêm. Sáu bộ kinh này được Duy thức tông lấy làm kinh điển chính.

            Mười một bộ luận bao gồm: Du-già sư địa luận, Thế Thân tạo, Huyền Trang dịch; Đại thừa bách pháp minh môn luận, Thế Thân tạo, Huyền Trang dịch; Nhiếp Đại thừa luận, Vô Trước tạo, Chân Đế dịch; Biện trung biên luận, Thế Thân tạo, Huyền Trang dịch; Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận, Vô Trước tạo, Huyền Trang dịch; Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Vô Trước tạo, Ba-la-phả-mật-đa-la dịch; Phân biệt Du-già luận, Di Lặc thuyết; Hiển dương thánh giáo luận, Vô Trước tạo, Huyền Trang dịch; Duy thức nhị thập tụng, Thế Thân tạo, Huyền Trang dịch; Duy thức tam thập tụng, Thế Thân tạo, Huyền Trang dịch; Thập địa kinh luận, Thế Thân tạo, Bồ-đề-lưu-chi dịch, 4 quyển.

            Trong 6 kinh và 11 bộ luận này, Duy thức lấy kinh Giải thâm mật làm bản kinh gốc và Du-già địa luận làm bản luận chính yếu.

            Trải qua quá trình thịnh suy, Duy thức học vẫn tồn tại mãi cho đến ngày nay. Nhờ có Duy thức, hành giả mới hiểu sâu về tâm thức, cũng như cơ chế vận hành của nó, lấy đó làm nền tảng để đoạn trừ các phiền não lậu hoặc.

2. Tìm hiểu về Duy thức tánh

            Duy thức tông lập ra Ba tự tánh Ba vô tánh nhằm mục đích hiển bày Duy thức trung đạo. Trung đạo của Duy thức có đặc điểm là kết hợp Tam tự tánh Tam vô tánh tại nơi xuất phát. Duy thức cho rằng muôn pháp trong thế gian đều có Ba tự tánh và Ba vô tánh. Ba tự tánh là nói rõ chẳng phải không; Ba vô tánh là nói rõ không chẳng phải có; duy cuối cùng thực tại là Duy thức thật tánh.

            Thành Duy thức nói: Thắng nghĩa của các pháp cũng chính là chân như. Chân là chân thật, biểu thị chẳng phải hư dối; như là như thường, biểu thị không biến dịch. Thắng nghĩa này chính là thực tánh Duy thức. Tánh Duy thức lược có hai thứ: một là tánh hư vọng, hai là tánh chơn thật.”

            Do vậy, Duy thức tông trình bày tánh của thức gồm có tánh hư vọng và tánh chân thật để giúp người học nắm rõ được tánh của thức gồm có vọng và chân. Từ đó tiến hành tu tập để thể nhập chân duy thức tánh.

2.1. Tam ttánh

            Tam ttánh có Biến kế sở chấp tánh, Y tha khởi tánh và Viên thành thật tánh.

            Biến kế sở chấp tánh: Còn gọi là Phân biệt tánh, Vọng kế tự tánh, Vọng phân biệt tánh, Vọng tưởng tự tánh, Tự tánh giả lập (parikalpita-svabhava).

            Luận Thành Duy thức nói về Biến kế sở chấp tánh như sau:

            Do biến kế nọ kia,

            Biến kế chủng chủng vật,

            Biến kế sở chấp này,

            Tự tánh toàn không có.

            Do so đo chấp trước mọi thứ nên gọi là Biến kế. Phẩm loại Biến kế rất nhiều cho nên nói là nọ kia. Đó là tính hư vọng phân biệt Năng biến kế. Chính tính hư vọng phân biệt năng Biến kế nọ kia mà chấp trước cùng khắp mọi vật bị biến kế; đó là vọng chấp năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, v.v. là thật có ngã hoặc pháp với tự tánh và nghĩa sai biệt của nó.

            Tự tánh và nghĩa sai biệt ngã pháp được vọng chấp này chung gọi là Biến kế sở chấp tự tánh. Chính tự tánh Biến kế chấp đó hoàn toàn không có, vì đem giáo lý suy xét thấy nó không thể có được.

            Cái không có thật mà cho là có thật, cho là có những tính chất bất biến thế này thế nọ, đó là vọng tưởng, vọng phân biệt, giả lập, biến kế. Rồi theo nó mà bám chấp, bám luyến, gắn bó, dính chặt. Đó là những chúng ta có thể hiểu về Biến kế sở chấp.

            Y tha khởi tánh (Paratantra-svabhava): còn gọi là Duyên khởi tánh, Tương thuộc tánh. Y tha khởi: nương vào cái khác mà khởi sinh. Ngài Suzuki dịch Y tha khởi tánh là cái biết ở phương diện tương đối (paratantra). Đây là tính chất duyên sinh tương thuộc của hiện hữu.

            Luận Thành Duy thức nói: “Tự tánh Y tha khởi/ Do duyên phân biệt sinh”. Kinh Lăng-g nói: “Y tha khởi tánh sinh khởi từ sự phân chia của chủ thể và đối tượng”.

            Y tha khởi tánh này có hai phần:

            - Phần nhiễm: câu “do duyên phân biệt sinh” chỉ cho phần bất tịnh của Y tha khơi. Đối với Phật giáo, cái thấy có sinh khởi thì chưa hoàn toàn là thật, còn vô minh. Trạng thái hết vô minh, đạt giải thoát được gọi là Vô sanh pháp nhẫn.

            - Phần tịnh: tức là “ở nơi y tha khởi này” mà không còn những phân biệt vi tế khiến thấy có sinh, thì đây là tính chất thanh tịnh vô lậu của Y tha khởi. Đây cũng chính là Viên thành thật tánh.

            Viên thành thật tánh (Parinispana-svabhava): còn gọi là Viên thành tự tánh, Đệ nhất nghĩa đế thể tánh, Tự tánh tuyệt đối.

            Viên thành thật nơi đó (nơi Y tha khởi)

            Thường xa lìa biến kế trước

            Nên nó và y tha

            Không khác không chẳng khác

            Như tánh vô thường không khác không chẳng khác với các pháp vô thường

            Thấy tánh Viên thành này mới thấy tánh Duyên khởi kia.

            Kinh Giải thâm mật nói: “Viên thành thật tánh là Chân như bình đẳng của tất cả các pháp”. Người tu Thánh đạo, cứ y nơi các pháp nhân duyên hòa hợp kia (Y tha khởi tánh) mà xa lìa các vọng chấp mê lầm ấy (biến kế sở chấp tánh), lúc bấy giờ Chơn như thật tánh hiển hiện, nên gọi là “Viên thành thật tự tánh”.

            Trên Y tha khởi tánh mà khởi mê lầm vọng chấp thì gọi là “Biến kế sở chấp”; xa lìa được mê lầm thì gọi là “Viên thành thật”.

            Các hạt giống hữu lậu trong tàng thức biến chuyển nối nhau trong từng sát-na, đó gọi là “Y tha khởi tánh”. Thức Mạt-na khởi vọng chấp cho là thật ngã nên các hạt giống hữu lậu xuất hiện ngăn che các hạt giống vô lậu, nên gọi là “Biến kế sở chấp”. Khi ý thức tu hai pháp quán không, khiến ngã chấp của Mạt-na thành “vô ngã”, các hạt giống hữu lậu chấm dứt, chỉ còn hạt giống vô lậu, đây gọi là “Viên thành thật tánh”.

2.2. Tam vô tánh

            Tam vô tánh là Tướng vô tánh, Sanh vô tánh và Thắng nghĩa vô tánh. Ba vô tánh này dựa vào Ba tự tánh mà lập ra. Kinh Giải thâm mật, phẩm Vô tự tánh nói: Các thầy phải lắng nghe thật k, tôi vì các thầy giải thích mật ý tất cả pháp đều không có tự tánh, xưa nay, tự tánh không sinh không diệt, vắng lặng, phải biết Ta nương vào ba loại tánh của Vô tự tánh mà mật ý nói. Tất cả pháp đều Vô tự tánh, gọi là tánh của Vô tự tánh, tánh của Sanh vô tánh, tánh của Thắng nghĩa vô tánh.”[1]

            Như ta đã biết, Đức Thế Tôn đề cập Tam tự tánh kỳ thật không có cái “tự tánh” nào cả. Ba tự tánh ấy chỉ là sản phẩm của sự hiểu biết sai lầm, từ ý niệm nhận thức có ngã có thường mà sinh ra khổ đau luân hồi, trước vạn pháp vốn dĩ vô ngã. Đức Thế Tôn nói: “Tất cả pháp không tự tánh”, đây mới là then chốt, lập trường, là tôn chỉ của giáo lý nhà Phật.

            Bởi vì chúng sanh chấp tất cả pháp là thật có, vì phá trừ vọng chấp này nên Đức Phật phương tiện mật ý nói Tam vô tự tánh: tất cả pháp đều không có tự tánh. Dùng ba loại thuốc này đối trị ba loại bệnh vọng chấp.

            Tức y thử tam tánh                                              Sơ tướng tức vô tánh

            Lập bỉ tam vô tánh                                           Thứ vô tnhiên tánh

            Cố Phật mật ý thuyết                                        Hậu do viễn ly tiền

            Nhất thiết pháp vô tánh.                                   Sở chấp ngã, pháp tánh.

            Tướng vô tánh: tướng này dựa vào tánh Biến kế sở chấp mà lập ra. Tự tánh Biến kế sở chấp nằm ở chỗ chúng ta tin vào thường và ngã mà sinh ra. Chính vì vậy mà thành ra có ngã chấp và pháp chấp, cũng tức là tánh Biến kế sở chấp, pháp do biến kế mà ra, cũng như sợi dây mà tưởng nhầm là con rắn, rồi tâm thức sinh ra sợ hãi. Tướng ấy không thật có, vì thế mới gọi là Tướng vô tánh. Kinh Giải thâm mật nói: Này người nam lành, sao gọi các pháp là Tướng vô tánh. Vì tướng Biến kế sở chấp của các pháp. Vì lý do gì, đây là do giả danh đặt tên làm tướng, chẳng do tự tướng đặt tên thành tướng. Đó là lý do nói rõ tánh của tướng Vô tự tánh.”[2]

            Sanh vô tánh: Đây là dựa vào tánh Y tha khởi mà lập ra, tức là tất cả pháp do nương tựa vào nhân duyên mà sinh khởi, nên gọi là Y tha khởi. Pháp này dựa vào cái khác mà khởi lên, do nhân duyên hòa hợp mà có, mà đã do nhân duyên hòa hợp thì chắc chắn là vô ngã. Đã vô ngã tức không có một thật thể bất biến, chính là duyên khởi tánh không. Ở đó các pháp là không có thật thể, nên gọi là Sanh vô tánh. Kinh Giải thâm mật nói: Sao gọi là các pháp Sanh vô tự tánh? Vì các pháp nương vào cái khác khởi ra tướng. Vì lý do gì? Tướng này do dựa vào sức mạnh của duyên khác, nên có mà không phải tự nhiên có. Đó là lý do nói tánh Sanh vô tự tánh.”[3]

            Tuệ giác về duyên sinh pháp cho thấy vạn sự vạn vật đều tồn tại trong quan hệ hỗ tương, làm điều kiện cho nhau hình thành và hoại diệt. Thế nên làm gì có thật thể bất biến trong các điều kiện ấy được, do đó không có bất cứ sự vật hiện tượng nào trên đời là vĩnh hằng, thường trụ, thuần nhất và bất biến cả. Trong kinh Tương ưng Đức Phật dạy: “Này các T-kheo, cái gì không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đem lại hạnh phúc an lạc cho các ông. Cái gì không phải của các ông? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không phải của các ông, vì chúng là do nhân duyên sinh, không có thật, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các ông...” [4]

            Thắng nghĩa vô tánh: Đây là nương vào tánh Viên thành thật mà lập ra. Viên thành thật tức là chân như. Chân như là viên (tròn), là thường (luôn có mặt), là thật tánh của tất cả pháp hữu vi. Đó là lý thể tuyệt đối, vĩnh hằng, là sự hiển lộ của hai không ngã và pháp. Kinh Giải thâm mật nói: “Lại có tướng Viên thành thật của các pháp, cũng gọi là tánh Thắng nghĩa vô tự tánh. Vì lý do gì? Tất cả các pháp, pháp không có ngã tánh gọi là thắng nghĩa, cũng gọi là tánh vô tự tánh. Đó là sự thật của các pháp thắng nghĩa, là sự hiển lộ của tánh Vô tự tánh. Do nhân duyên này gọi là tánh Thắng nghĩa vô tự tánh.”[5]

            Luận Thành Duy thức đề cập Thắng nghĩa đế lược có bốn thứ:

      - Thế gian Thắng nghĩa: đó là năm uẩn, 12 xứ, 18 giới...

- Đạo lý Thắng nghĩa: đó là bốn Diệu đế.

- Chứng đắc Thắng nghĩa: đó là Chân Như được hiển lộ bởi hai không.

- Thắng nghĩa thắng nghĩa: đó là pháp giới nhất chân.

            Chữ Thắng ở trong bài tụng là chỉ cho Thắng nghĩa thứ tư, vì đây là nghĩa lý của đạo phẩm tối thắng tu chứng, và để giản biệt với ba Thắng nghĩa đầu.

            Luận Thành Duy thức, quyển 8 nói: Ba loại tự tánh đều là pháp không lìa Tâm, Tâm sở. Vì Tâm, Tâm sở và những gì được biểu hiện đều do nhiều duyên sinh ra, giống như ảo thuật chẳng phải có mà dường như có. Những kẻ ngu si lầm lạc, tất cả đều gọi là tánh Y tha khởi. Kẻ ngu do đây chấp chặt có ngã, có pháp, có không, một khác... Như bóng dáng hoa đốm giữa hư không, chẳng có tánh, tướng, tất cả đều gọi là bị vướng mắc do Biến kế khởi lên từ Y tha. Ngã, pháp bị chấp ấy đều không, cái không này làm hiển lộ chân tánh của các thức. Đó là lý do ba tánh này không lìa Tâm, Tâm Sở và hiện tượng.

2.3. Duy thức thật tánh

            Như đã biết, thức không tự nó sanh ra mà cần có các yếu tố nhân duyên hòa hợp mà thành. Nếu vậy thì thức chỉ là một khái niệm không có thật thể, tùy vào từng trường hợp mà biểu hiện công năng khác nhau. Như vậy, thật tánh của Duy thức là gì? Bài tụng thứ 25 nói rõ vấn đề ấy:

            Thử chư pháp thắng nghĩa

            Diệc tức thị chân như

            Thường như kỳ tánh cố

            Tức Duy thức thật tánh.

            Luận Thành Duy thức nói: “Thắng nghĩa của các pháp cũng chính là chân như. Chân là chân thật, biểu thị chẳng phải hư dối; như là như thường, biểu thị không biến dịch. Thắng nghĩa này chính là thực tánh Duy thức. Tánh Duy thức lược có hai thứ: một là tánh hư vọng, hai là tánh chân thật.” [6]

            Chân như trong Phật pháp là chân lý tối cao; tu tập Duy thức không ngoài dứt sạch hai chấp, hai chướng, chứng được hai không là ngã không và pháp không, chuyển thức thành trí, chứng quả Niết-bàn.

            Dựa vào nội dung bài kệ trên thì Biến kế sở chấp và Y tha khởi trong Ba tự tánh đều không phải là thật tánh của các pháp. Chỉ có Viên thành thật mới là thật tánh của các pháp. Đứng về phương diện Duy thức mà nói, thật tánh các pháp này cũng chính là thật tánh của Duy thức, cho nên tụng văn nói: “Tức Duy thức thật tánh.”

            Liên hệ với kinh tạng Pāli thì vấn đề này đã được Đức Phật đề cập ngay từ buổi đầu. Trong kinh Tương ưng, Đức Phật dạy: “... Này các Tỷ-kheo, phàm có sắc, thọ, tưởng, hành, thức gì thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại, hoặc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần. Vị Tỷ-kheo thấy sắc (thọ, tưởng, hành, thức) chuyên chú, như lý quán sát về sắc (thọ, tưởng, hành, thức). Sắc... thức ấy hiện ra rõ ràng là rỗng không, hiện ra rõ ràng là không có lõi cứng, hiện ra rõ ràng là trống không. Làm sao, này các Tỷ-kheo có lõi cứng trong sắc... thức.”[7]

            Như vậy, gốc rễ của mọi bất hạnh đều xuất phát từ sự nhận thức sai lầm rằng có một cái tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi trong và ngoài tấm thân ngũ uẩn. Theo Đức Phật, cái mà chúng ta luôn lầm chấp là tôi, của tôi, thực chất là rỗng không, trống không. Nhận thức về tánh duyên sanh giúp thấy rõ tánh vô thường, vô ngã của vạn vật. Muốn thực chứng Niết bàn chân như phải tiếp xúc với thực tại vô thường và vô ngã. Như vậy thật tánh của Duy thức cũng chính là “rỗng không” đó vậy.

3. Ứng dụng tu tập

            Duy thức tánh được lập ra mục đích giúp hành giả nhận thức được bản chất của mọi sự vật hiện tượng, từ đó nỗ lực hành trì, chuyển Thức thành Trí.

            Đối với các kiến thức đã được lãnh thọ, tùy vào nghiệp lực chi phối và khả năng nhận thức, mỗi hành giả sẽ có cách ứng dụng riêng để đem đến lợi ích thiết thực cho bản thân.

            Muốn liễu đạt Duy thức thật tánh, hành giả cần minh lý Tam tự tánh và Tam vô tánh. Mặt khác, Tam vô tánh được lập ra từ Tam tự tánh, gạt bỏ tâm lý chấp có tự tánh, giúp hành giả có một cái nhìn tương đối thấu đáo các hiện tượng, không bị thức dối gạt.

            Tuy nhiên, trước mọi hiện tượng sanh diệt biến đổi, để có cái thấy trọn vẹn, chính xác của Duy thức Thật tánh, hành giả cần phải huân tu các công hạnh, thông đạt được Tam tự tánh.

3.1. Đối với Biến kế sở chấp tánh

            Con người luôn dùng tâm thái chủ quan của mình để nhìn, nhận xét và phán xét mọi vật, phán xét người khác. Vì thế đời sống của chúng ta phần nhiều gắn với thế giới phân biệt hư vọng.

            Dưới sự điều khiển của tâm thức, tính khách quan trong nhận thức sẽ không được chủ thể thực hiện. Hầu như mọi thực tại mà tâm nhận thức được đều là một sản phẩm không thật do thức biến hiện, hoàn toàn không phù hợp với bản chất của sự vật.

            Trong đời sống, hầu như chúng ta thường không nhận ra điều này. Chúng ta luôn cho rằng, mọi suy nghĩ và hành động của mình luôn đúng với thực chất của nó. Đây chính là nguyên nhân căn bản dẫn đến những nhận thức sai lầm, khổ đau của mỗi người.

            Phương pháp tu tập ở đây là bỏ Biến kế sở chấp để trở về với Y tha khởi và Viên thành thật. Biến kế sở chấp có mặt là do sự tin vào thường, vào ngã. Đó là cái thấy thông tục của những người không có tu học, của những người vô minh. Thực tại đối với họ là có thường và có ngã. Thực tại có thường và có ngã là một thực tại mang màu sắc của Biến kế chấp.

            Vì vậy người tu học phải sử dụng hai chìa khóa Vô thường và Vô ngã để quán chiếu sự vật và đạt tới cái thấy Y tha khởi.

3.2. Đối với Y tha khởi tánh

            Để làm hiển lộ Y tha khởi tánh hay tánh Duyên khởi, chúng ta cần quán duyên khởi. Chúng ta cần đưa tất cả mọi cái thấy nghe hay biết (mọi hiện tượng, mọi pháp) về với thực tánh của chúng là tánh duyên khởi, nhờ đó chúng ta thể nghiệm được sự thật của chúng là vô thường, khổ, không và vô ngã.

            Quán chiếu tính Y tha

            Vô minh thành tuệ giác.

            Luân hồi và chân như

            Tuy hai mà thành một.[8]

            Nếu sống trong chánh niệm để có thể thấy được tính Y tha khởi trong lòng sự vật thì chúng ta có thể chuyển vô minh thành tuệ giác. Có chánh niệm về bản chất tương tức tương nhập của vạn hữu là chìa khóa của sự chuyển hóa.

3.3. Đối với Viên thành thật tánh

            Chánh niệm, tỉnh giác, quán chiếu liên tục về vô thường, vô ngã, hành giả sẽ có được tuệ giác vô thường, vô ngã. Khi đó hành giả sẽ thấy được tính cách Y tha khởi của sự vật và tiếp xúc được Viên thành thật tánh.

            Hành giả cần biết rằng giáo lý vô thường và vô ngã chưa phải là tuệ giác về vô thường, vô ngã. Chúng ta có thể hiểu rất rõ, nói rất hay về vô thường, vô ngã nhưng đó chỉ mới là giáo lý mà thôi. Chỉ khi nào dùng chánh niệm mà sống đời sống hằng ngày, quán chiếu sự vật để chứng nghiệm được tự tính vô thường, vô ngã thì mới gọi là tuệ giác vô thường, tuệ giác vô ngã.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Mạnh Thát (2006), Triết học Thế Thân, NXB.TP. HCM.

2. Paramārtha - Chân Đế, Giải Minh dịch (2012), Duy thức triết học, NXB.Phương Đông, TP.HCM.

3. Thích Nhất Hạnh (1969), Vấn đề nhận thức trong Duy thức học, NXB.Lá Bối.

4. Thích Thiện Siêu dịch và chú (2006), Thành Duy thức luận, NXB.Tôn Giáo, Hà Nội.

5. Vu Lan Ba, Thích Quang Tư dịch (2004), Duy thức tam thập tụng giảng ký, lưu hành nội bộ, Huế.

6. Tuệ Sĩ dịch và chú giải (2009), Luận Thành Duy thức, NXB.Phương Đông, TP.HCM.

7. ĐTKVN (2000), Tương ưng bộ III, NXB.Tôn Giáo, Hà Nội.

8. HT.Thích Trí Quang dịch (2018), Kinh Giải thâm mật, NXB.Tổng Hp, TP.HCM.

9. Thích Nhất Hạnh, Duy biểu học, bản PDF.

 

 


 

[1] HT.Thích Trí Quang dịch (2018), Kinh Giải thâm mật, phần 5, phẩm Vô tánh, NXB.Tổng Hợp, TP.HCM, tr.26-27.

[2] HT.Thích Trí Quang dịch (2018), Kinh Giải thâm mật, phần 5, phẩm Vô tánh, NXB.Tổng Hợp, TP.HCM.

[3] Sđd.

[4] ĐTKVN (2000), Tương ưng bộ III, chương 1, phẩm Không phải của các ông, NXB.Tôn Giáo, Hà Nội, tr.67.

[5] HT.Thích Trí Quang dịch (2018), Sđd.

[6] HT.Thích Thiện Siêu dịch và chú, Thành Duy thức luận, NXB.Văn Hóa Sài Gòn, TP.HCM, tr.392.

[7] ĐTKVN (2000), Tương ưng bộ III, Cchương 1, phẩm Hoa, phần Bọt nước, NXB.Tôn Giáo, Hà Nội, tr.252.

[8] Thích Nhất Hạnh, Duy biểu học, bài kệ 41, bản PDF.

Chia sẻ: facebooktwittergoogle
Các bài viết khác