HẠNH PHƯƠNG
Tâm cảm thơ thầy THÍCH THIỆN ĐẠO
Từ ngàn xửa ngàn xưa, ngôi chùa làng
dãi dầu bao nắng bao mưa, đã
gắn bó máu thịt,cố kết với dân làng, một
nắng hai sương, đầu tắt mặt tối, bán mặt cho đất,
bán lưng cho trời… Ẩn mình sau
lũy tre làng, núp bóng
dưới cội bồ đề, mái chùa quê
với ông thầy tu chân
quê, đầu tròn áo vuông,
đã làm tròn vai trò
sứ giả như lai, chung
chịu gian nan, chung vui
hạnh phúc cùng mười phương thiện tín :
Chùa tôi cõng nắng gánh mưa
Chia cơm sẻ áo cho vừa thương
nhau
Chùa tôi vọng tiếng kinh cầu
Thôn trên xóm dưới thuộc câu nhiễu điều.
Thầy Thích
Thiện Đạo, tác giả bài thơ, đã xuất thần trực khởi bài thơ CHỖ VỀ tuyệt vời, điêu luyện, tài tình đến thế, đố ai làm được?
Câu hỏi
được đặt
ra như một thách thức,.tự thân nó đã ngầm có một câu trả
lời : Tất
cả những ông thầy chơn chất, giàu lòng từ
bi, đồng sự
với bà con làng xóm dân
dã… thảy đều làm được như thầy Thích Thiện Đạo, nhưng quý thầy chơn tu đạo hạnh, mà ít chuộng thi ca, thì họ
có ngôn
phong
bình dị hơn, tiếng lời thân thương của quý thầy ấy đôi khi bộc lộ
hẵn ra nơi hành vi, cử chỉ của mình, đẹp như thơ mà không
cần phải làm thơ…
Chùa tôi bóng ngã về
chiều
Khói lam vương nhẹ, bao nhiêu tự
tình
Chùa tôi ngập ánh bình minh
Sen từ thơm ngát,
đinh ninh lối về.

chùa quê:
ảnh-minh họa
Thật
đẹp thay, sớm trưa chiều tối, chùa tôi chiều
chiều cũng quyện làn khói lam nhè nhẹ như mọi mái nhà trong xóm trong
thôn, mỗi sớm mai chùa
cùng chung chia ánh nắng
ban mai huy hoàng rực rỡ, đã từ muôn thuở.
Mái chùa làng vẫn ngan ngát hương
sen đón hạ về, thu đến…
Chính hương sen ấy là
sứ giả dắt đường chỉ nẻo cho thiện tín , đinh ninh duy nhất một lối về, lối về cho một
chốn nơi duy nhất để về …
Chùa tôi như một con đê,
Ngăn dòng nước đục tràn về
lợi danh.
Lại là một thủ thuật độc đáo tạo thi ảnh
để chuyển tải tư tưởng, văn “tải đạo”
đấy mà cứ như chẳng chở đạo chút nào…chẳng cần phải đưa ra một lời khuyên, ông
thầy
mượn thơ, mượn thi ảnh…chỉ cho người đọc thấy sức mạnh đạo đức tiềm tàng nơi ngôi chùa
ấy, chùa là con đê nhỏ, đủ sức mạnh ngăn bao dòng
nước đục
tràn về… thứ nước đục cặn bã lợi danh.
Chính nhờ sức mạnh ấy ai đã
về được
chỗ về, ai đã về
được CÕI VỀ ấy
thảy đều thấy thảnh thơi, an lạc, thảy đều được an trú trong pháp lạc
nhiệm mầu :
Chùa tôi rợp bóng tre xanh
Chở che ấp ủ dân lành sớm khuya
Chùa tôi nhẹ thoảng hương cau.
Nhẹ điều
thương ghét, niệm câu Di Đà
Chuông khuya lay bóng trăng
tà
Con chim cánh trắng la đà cõi tâm
Ai về ngọt
lịm pháp âm
Ta về tự tánh, thậm thâm suối nguồn.
Năm mươi
năm trước, thi sĩ
thiền sư Huyền Không - Mãn Giác từng
viết bài thơ NHỚ CHÙA, nguyện
vì lý
tưởng
xuất gia thầy bỏ quê nhà mà
đi, bỏ thôn bỏ xóm,
xa mái
chùa
làng, thầy đã lưu lại tuyệt tác
NHỚ CHÙA, với hai câu thơ biết bao Phật tử thuộc nằm lòng :
Mái chùa che chở hồn
dân tộc
Nếp sống muôn đời của Tổ tông
Nhưng thầy
Huyền Không – Mãn Giác đã
phải xa chùa rồi mới nhận ra nỗi nhớ thương da diết, niềm an lạc hạnh phúc mái chùa đã ghi khắc
trong tâm, thầy Thiện Đạo thì khác, đương
xứ tức chân, ngay nơi ngôi chùa
mình đang ở, thầy đã thấy rõ mặt
mũi xưa nay của nó rồi.
Thầy gọi đích xác mái
chùa thân thương ấy chính là CÕI VỀ của mình :
Sắc không hiện giữa chân thường
Trời
chân như ấy ngát hương
cõi về.
Hình tượng
ngôi chùa thân thương trong nền thi ca văn học Phật Giáo Việt Nam, sau tuyệt tác NHỚ CHÙA của
Huyền Không, ngày nay lại có thêm
tuyệt
phẩm CÕI VỀ của
thầy Thích Thiện Đạo.
Thật hạnh phúc thay.
Mùa Vu Lan P.l. 2555