Thích Thanh Lương
Hiếu hạnh, chuẩn mực của
đạo đức từ bao đời vẫn luôn tồn tại trong tư duy của nhân loại, là nền tảng căn
bản của luân lý xã hội. Dù cho anh thuộc sắc tộc nào, dù cho chị
theo tôn giáo nào, dù cho em là ai, thì hạnh hiếu vẫn luôn là đích đến
của tiến trình hoàn thiện nhân cách, nó được xem là ‘gốc của đạo đức, gốc của
lòng nhân ái’. Đạo Phật, con đường hướng đến giác ngộ giải
thoát, vẫn luôn lấy hiếu hạnh làm đầu – “đạo Phật là đạo hiếu, hạnh Phật là hạnh
hiếu’. Từ cái nhìn tổng quát, muốn làm Phật, một bậc chí tôn chí kính,
tiên quyết nhất người Phật tử cần phải hoàn thiện nền tảng căn bản của đạo đức
xã hội, đó chính là tinh thần từ hiếu đối với hai đấng sinh thành. Trong kinh
Tăng Chi Bộ, đức Thế Tôn đã từng dạy rằng:
‘"... Có hai hạng người, nầy các tu sĩ, Ta
nói không thể trả hết ơn được. Đó là Cha và Mẹ. Nếu một bên vai cõng mẹ, một bên
vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm cho đến trăm tuổi cũng chưa trả ơn đủ cho
cha mẹ. Nếu có phụng dưỡng cha mẹ với mọi báu vật trên trái
đất nầy cũng chưa trả ơn đủ. Vì sao thế? Vì rằng
cha mẹ đã bỏ nhiều công sức cho con cái, nuôi dưỡng chúng cho đến lúc lớn khôn,
và dẫn dắt chúng vào trong đời nầy.’
Thực tế xã hội ngày nay chúng ta thấy tỷ lệ
thanh thiếu niên phạm pháp ngày càng tăng. Những hành vi
cư xử thiếu đạo đức của các em đã nhiều lần làm cho hai đấng sinh thành phải đau,
phải xấu hổ. Thực tế đó đưa đến kết luận rằng, các em vẫn chưa
thương yêu cha mẹ mình thấu đáo, chưa thấm nhuần tư tưởng hiếu hạnh mà muôn đời
tổ tiên ông bà đã để lại.
Dưới cái nhìn của một tu sĩ Phật giáo, tôi cho rằng hiếu hạnh
của con trẻ cần phải được giáo dục và tưới tẩm hằng ngày qua các hoạt động của
cuộc sống trong gia đình và xã hội.
Từ suy nghĩ đó, bài viết dưới đây sẽ đệ trình một vài phương pháp nhằm tưới tẫm
hạt mầm hiếu hạnh cho con trẻ theo tinh thần mà đức
Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy.

1. Giúp con
nhận thức đúng đắn và sâu sắc về chữ ‘hiếu’ theo tinh
thần của Phật giáo:
Có thể nói hầu như các tôn
giáo, các trường phái triết học, dù Đông hay Tây cũng đều đề cao hiếu hạnh, bởi
nó là chuẩn mực của đạo đức, của nhân cách. Tuy nhiên, do quan điểm nhận thức của mỗi cá nhân trong mỗi cộng đồng
khác nhau mà hiếu hạnh được hiểu và thực hiện theo những phương cách không giống nhau. Lẽ
thường, gần như mọi người đều hiểu, ‘hiếu’ là ‘bổn phận’ là ‘trách nhiệm’.
Điều đó có nghĩa là làm con thì phải hiếu dưỡng cha mẹ, đấy mới là ‘đạo làm
con’. Chẳng hạn trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam có câu:
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo
con.
Tuy nhiên, trên tinh thần
của đạo Phật, việc hiếu dưỡng hai đấng sinh thành vượt lên trên cả bổn phận,
vượt lên trên cả nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ, mà đó là nhu cầu của tình
thương. Nói cách khác, lo lắng,
thăm viếng cha mẹ xuất phát từ tình thương yêu tôn kính của con dành cho cha mẹ.
Ý niệm thương yêu đó đòi hỏi người con mong muốn có cơ hội để hiếu dưỡng cha mẹ.
Như ca dao cũng có nói:
Mẹ già ở túp lều tranh
Sớm thăm tối viếng cho đành dạ con
Sự khác biệt giữa bổn phận và tình thương tạo
nên một khoảng cách rất lớn trong hành vi cư xử. Chẳng hạn khi chúng ta làm một điều gì đó chỉ vì bổn phận thì chắc
chắn sự thành tựu sẽ có phần hạn chế, ‘làm lấy rồi’. Ngược lại, chúng ta
làm vì sự đam mê, làm vì tâm chân thành thì thành quả của nó thật không giới
hạn. Cũng vậy, hiếu dưỡng cha mẹ vì nhu cầu của tình thương, được lo lắng, thăm
viếng cha mẹ là một niềm tự hào, là nguồn thương yêu vô hạn, là cách thức kiếm
tìm hạnh phúc của con cái, thì sự hiếu dưỡng đó mới được trọn vẹn, bởi vì “Cha
mẹ là niềm phúc đức và niềm an lạc cho con cái. Cha mẹ là một nửa hồn và máu
huyết của con cái. Cha mẹ đã đóng góp đời mình cho sự trưởng thành của con cái.
Cha mẹ là tất cả, là của con và vì con”. (TT.
Thích Nhật Từ, Chữ hiếu trong ca dao Việt nam
và trong kinh điển Phật giáo)
Trên tinh thần hiếu dưỡng
như vậy, người con hiếu trong đạo Phật không chỉ biết phụng dưỡng cha mẹ về của
cải vật chất mà còn tận tình chăm sóc đời sống tinh thần cho cha mẹ thích ứng
với chánh pháp mà Phật dạy. Một người Phật tử biết từ
hiếu với cha mẹ trước tiên bản thân của người ấy biết sống đời phạm hạnh, từ lời
nói đến việc làm phải biết tự hoàn thiện về nhân cách đạo đức.
Có như thế mới làm cho cha mẹ vui. Ý nghĩa đó được được ghi lại trong Sám
pháp Mục Liên như sau: “Làm con hiếu thảo
theo lời kinh dạy là cố gắng tu trì, diệt trừ tội chướng, thanh tịnh hành
vi, cha mẹ hiện tiền sống lâu trăm tuổi, tổ tiên quá khứ rũ sạch oan khiên”.
Hơn thế nữa, người Phật tử hiếu hạnh còn biết
hướng cha mẹ tu nhân tích đức, hành thiện, bố thí, trì giới … để cha mẹ có thể
tự mình được an lạc và giải thoát muôn đời như đức Phật đã dạy: “Hiện
tiền đại chúng thiện nam tín nữ phải phát hiếu tâm cúng dường cha mẹ, khuyên tu
thập thiện, cùng chứng đạo quả, cùng thành bồ-đề, đời này an vui, đời sau hạnh
phúc”. (Sám Pháp Mục-Liên).
Như thế, hiếu dưỡng theo
tinh thần của đạo Phật được hiểu như là một pháp tu. Một người con hiếu, không
chỉ biết tu tập, hành trì giới luật để tự hoàn thiện mình, mà còn biết khuyến
hóa cha mẹ cùng tu tập để hướng đến hạnh phúc chân thực. Ý nghĩa đó một lần nữa
được đức Thế Tôn nhấn mạnh trong kinh Báo Ân Cha Mẹ như sau: “Chư vị Phật tử !
Các người muốn báo ân cha nghĩa mẹ thì phải thân hành
sao chép trì tụng, thực hành kinh này. Phải biết sám hối tội
lỗi cho cha mẹ, bằng cách khuyến khích cha mẹ thực hành chánh pháp tối thượng.
Phải vì cha mẹ mà giữ tịnh giới, mà làm bố thí, làm hạnh lợi tha.
Làm được như vậy mới là hiếu tử.” (Kinh Báo Ân Cha Mẹ, H.T
Thích Trí Quang dịch)
2. Gìn giữ truyền thống đạo đức gia
phong:
Cùng với việc giúp con hiểu ý
nghĩa chữ “hiếu” trong đạo Phật, để vun tưới hạt mầm hiếu hạnh cho con trẻ thì
sự giữ gìn truyền thống đạo đức gia phong luôn đống vai trò vô cùng quan trọng.
Trong truyền thống đạo đức đó, tinh thần tri ân và báo ân đối với tổ tiên ông bà
luôn là nền tảng vững chắc cho các thế hệ con cháu noi theo. Chẳng hạn, nhân các ngày kỵ giỗ trong gia đình, các kỳ chập mộ, lễ
mừng thọ … dù bận rộn và xa xôi thế nào, cha mẹ cũng nên tạo điều kiện đưa con
về dự lễ. Dự lễ như vậy giúp con trẻ hiểu rõ về nguồn cội, ý thức về quê
hương xứ sở, về tình huyết thống, về vốn liếng tâm linh của đại gia đình. Đặc
biệt, đối với những gia đình theo đạo Phật, chúng ta nên cung thỉnh chư tôn Thiền đức chủ
hành pháp sự, tiến hành lễ cầu siêu vào ngày húy kỵ và cầu an vào các lễ mừng
thọ cho các vị cao niên trong gia tộc. Những buổi lễ như vậy, cung thỉnh
chư tôn đức giảng giải thêm cho các thế hệ con cháu hiểu về ý nghĩa hiếu
hạnh, và cách thức báo hiếu. Đối với những gia đình không có điều kiện cung
thỉnh chư tôn Thiền đức hay những gia đình không theo đạo Phật thì chúng ta cũng
nên nhân các hoạt động truyền thống đó để dạy con cháu biết hiếu dưỡng ông bà
cha mẹ, như là cách thức để tiếp nối mạng mạch tâm linh của gia tộc.
3. Xây dựng gia
đình thực sự là tổ ấm, là nơi nương tựa vững chắc cho con trẻ:
Để dạy con biết hiếu thảo, hay các hành
vi đạo đức khác, việc xây dựng một tổ ấm gia đình có ảnh hưởng rất lớn,
bởi đó là nơi nương tựa cho con trẻ. Nếu gia đình không còn là nơi cư ngụ yên ổn
thì con trẻ khó có thể hình thành được những hành vi cư xử chuẩn mực huống hồ là hiếu kính mẹ cha. Cho nên
người ta thường cho rằng gia đình là trường học đầu đời cho con trẻ.
Trong gia đình hạt nhân truyền thống của người
dân Việt Nam bao gồm hai
thế hệ: cha mẹ và con cái. Hạnh phúc nảy mầm từ mối quan hệ giữa vợ - chồng,
giữa cha mẹ - con cái, và mối quan hệ giữa các anh chị em với nhau. Để có một tổ
ấm gia đình thực sự, quan trọng nhất cha mẹ phải dành nhiều thời gian gần gủi,
quan tâm nhau, dành nhiều thời gian để lắng nghe và hiểu biết những tâm tư của
con trẻ, nhất là khi con bước vào tuổi vị thành niên. Cha mẹ nên dạy các con
biết sống hòa thuận với nhau trong tình huyết thống cao thâm.
Đối với những gia đình có
truyền thống Phật giáo thì thật là tốt khi biết áp dụng Phật pháp vào đời sống
hằng ngày trên tinh thần cùng nhau tu tập nhằm hướng đến hạnh phúc chân thực. Mỗi thành viên luôn tự ý
thức thực tập hạnh lắng nghe và nói lời ái ngữ. Lắng nghe bằng cả con tim chân thành và thấu hiểu thì chắc chắn có thể làm vơi đi
những xung đột trong cuộc sống gia đình. Được như vậy, mối
quan hệ giữa cha mẹ và con cái ngày một gần gủi và gắn bó hơn. Sống trong
một gia đình ấm cúng như thế, việc tưới tẩm hạt giống hiếu hạnh trong con trẻ
chắc chắn sẽ dễ dàng, bởi lúc đó “hiếu thảo không chỉ thể hiện tình yêu thương
với mẹ mà còn là điều kiện để chúng ta được sống như là chính mình, để cảm thấy
mình vẫn cứ bé nhỏ khi về với gia đình thương yêu, vẫn như là những đứa trẻ
tranh nhau nép mình vào vòng tay cha mẹ”. (TS Đinh Phương Duy – Hiếu thảo, giá
trị muôn đời của con người).
4. Cha mẹ luôn
tự ý thức xây dựng mình thành những tấm gương hiếu hạnh cho con cái noi theo:
Trong nền giáo dục Phật giáo, ‘thân giáo’ vẫn
luôn được xem là hình thức giáo dục quan trọng nhất trong ba hình thức: thân
giáo, khẩu giáo và ý giáo. Điều này cũng rất dễ hiểu, bởi lẽ dù cho chúng ta có
nói lý thuyết hay đến mấy mà bản thân không tự thực hiện thì xem như những lời
nói suông, những sáo ngữ mà thôi.
Trong đời sống gia đình, những hành
vi cư xử hằng ngày của cha mẹ luôn là những bài học sống động, có ý nghĩa
quyết định đến hành vi đạo đức của con cái sau này. Đơn giản rằng trẻ con thì
thường rất thích bắt chước. Thấy cha mẹ làm gì thì thường làm
theo. Sự bắt chước đó dần dần sẽ hình thành nên thói quen đạo đức trong
con trẻ. Do vậy, nếu muốn dạy con hiếu kính với ông bà cha mẹ thì bản thân cha
mẹ cũng phải biết hiếu kính ông bà của mình. Cha mẹ phải là tấm gương sáng cho
con trẻ noi theo. Điều này đã từng được N.I.Novicop
phát biểu rằng: “Không có gì tác động lên tâm hồn non nớt của trẻ bằng quyền lực
của sự làm gương, còn giữa muôn vàn tấm gương thì không tấm gương nào gây ấn
tượng sâu sắc và bền chặt bằng tấm gương của cha mẹ và thầy cô”.
5. Khuyến khích
con bày tỏ tình thương yêu với người thân trong gia đình nhằm hình thành thói
quen hiếu thảo cho con:
Nói chung cuộc sống
gia đình luôn có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi đạo đức và tư duy của con trẻ sau
này. Cho nên, việc khuyến khích con trẻ bày tỏ tình thương yêu
của mình với ông bà, cha mẹ và các anh chị em cũng giúp hình thành thói quen
thương yêu và hiếu thuận của chúng. Tuy vậy, nhìn chung
trong các gia đình Việt Nam
gần như mọi người cảm thấy khó khi thốt lên một lời yêu thương với người thân.
Câu nói ‘Mẹ ơi! Con thương mẹ lắm!’, ‘Ba ơi! Con thương ba lắm!’, ‘Anh ơi! Em thương anh lắm!’,
hay ‘Chị ơi! Em thương chị lắm!’ gần như là khó khăn để mở lời
đối với họ. Điều này có lẽ xuất phát từ cách nghĩ, yêu
thương chỉ nên giấu kính trong lòng chứ không cần phải nói ra thành lời.
Tuy nhiên tôi thì không hoàn toàn đồng ý với quan điểm đó.
Ngược lại tôi cho rằng, việc thể hiện ra bằng lời nói, bằng hành động, và bằng
cả tấm lòng thì cha mẹ cũng như người thân mới cảm nhận trọn vẹn được.
Chắc chắn khi ba mẹ và người thân của chúng ta nghe được những lời thổ lộ yêu
thương như vậy thì họ sẽ vui mừng lắm!.
Có một lần tôi dạy tiếng Anh cho một nhóm 20 học sinh lớp 6.
Hôm đó sắp đến ngày Vu Lan, tôi muốn gợi nhắc các em về
cái ngày trọng đại này, ngày dành cho cha và mẹ của mình. Tôi chuẩn bị 20 tấm
thiệp và bao thư
rất trang trọng. Sau giờ dạy, tôi dành khoảng 30 phút nói
chuyện với các em, và khuyến khích các em nói lời yêu thương với hai đấng sinh
thành. Tôi phát cho các em mỗi người mỗi tấm thiệp và bao
thư để các em viết lên đó những gì ngọt ngào nhất dành cho cha mẹ và ký
tên phía dưới. Tôi thu
lại những tấm thiệp. Đêm đó trở về phòng, tôi ngồi một mình và
đọc những dòng chữ rất ngây ngô và dễ thương đến lạ. Tôi ngập tràn một
niềm xúc cảm khó tả và nghĩ rằng cha mẹ của các em chắc chắn sẽ hạnh phúc khi
đọc được những lời yêu thương do chính nét bút ngoạch ngoạc của những đứa con
yêu quý mình viết lên. Tôi quyết định dán lại từng phong thơ rất kính cẩn và gửi
đến từng phụ huynh của các em nhân mùa Vu Lan
năm đó. Kết quá, chỉ ngay lúc nhận được những tấm thiệp chúc
mừng, phụ huynh đã gọi điện cho tôi rất nhiều. Họ đã
bày tỏ niềm hạnh phúc đến ngập tràn tâm hồn tôi. Không có mặt ở mỗi gia
đình, nhưng qua các cuộc điện đàm tôi đã cảm nhận được một hơi ấm thương yêu từ
những đứa học trò bé nhỏ của tôi. Từ đó, tôi vẫn thường khuyến khích các em nên
làm như vậy không chỉ vào ngày lễ Vu Lan, mà còn vào các ngày đặc biệt khác như
mồng 8 tháng 3, ngày 20 tháng 10, và những ngày sinh nhật của ba của mẹ…
Khuyến khích thổ lộ tình cảm như vậy chắc chắn sẽ tưới tẩm lên hát giống hiếu
hạnh của con trẻ rất nhiều.
6. Nêu cao
những tấm gương hiếu hạnh qua các câu truyện kể:
Trẻ con thì thường rất thích nghe kể chuyện.
Kể chuyện không những là cách xây dựng tình thân giữa cha mẹ và con cái mà còn
là cơ hội để dạy con những bài học đạo đức. Gần gủi và
kể cho con những câu chuyện cổ tích về những tấm gương nhân đức và hiếu thảo
cũng là một trong những hoạt động nhằm tưới tẩm hạt mầm hiếu hạnh cho con.
Trong kho tàng truyện cổ Phật giáo có rất nhiều câu chuyện như vậy, chẳng hạn
như những câu chuyện về tấm gương hiếu thảo của ngài Mục Kiền Liên, của ngài Xá
Lợi Phất và đặc biệt là những câu chuyện về gương hiếu hạnh của đức Thế Tôn.
Sau khi kể những câu chuyện đó, cha mẹ nên cố gắng phân tích và nêu cao những
gương hiếu để gợi nhắc con cái về bổn phận của chúng đối với ông bà cha mẹ.
Đôi lúc cha mẹ cũng nên để con trẻ tự đọc những câu chuyện trước, rồi ngồi lắng
nghe con kể lại. Việc để cho trẻ làm như vậy sẽ in sâu hơn trong tâm trí chúng
về hành vi hiếu hạnh của các nhân vật trong truyện và
tự rút cho mình những bài học quý giá.
Tóm lại, giáo dục tinh thần
hiếu thuận cho con trẻ là một việc làm rất cần thiết. Việc làm đó nên được tưới
tẩm thường xuyên thông qua các hoạt động đời thường nhất đến các sự kiện trọng
đại trong cuộc sống gia đình cũng như cộng đồng xã hội. Khi con trẻ ý
thức về hiếu hạnh, khi chúng biết thương mẹ kính cha, và biết cố gắng không làm
cho cha mẹ buồn thì chắc chắn rằng các em sẽ luôn phấn đấu để trở thành những
con người tốt, lợi ích cho gia đình và xã hội sau này. Đối với
những gia đình Phật tử, việc áp dụng và nêu cao những tấm gương hiếu hạnh trong
kinh Phật thực sự là hữu ích cho quá trình tưới tẩm hạt mầm hiếu hạnh cho con.
Thường xuyên đưa con đi chùa, đặc biệt là vào các dịp lễ lớn như Vu Lan luôn là
cơ hội để giúp con hiểu một cách sâu sắc tinh thần hiếu hạnh trong đạo Phật.
Cuối cùng, việc giáo dục hiếu đạo cho con nên được bắt đầu càng sớm càng tốt,
đơn giản là vì con nhỏ thường dễ uốn nắn hơn. Điều này đã được Nguyễn Trãi nói
đến trong Gia Huấn Ca rằng:
‘Khai tâm từ thuở thiếu niên
Hiếu kinh tiểu học đọc liền cho xong’
Tu Viện Vạn Hạnh, Mùa An Cư Kiết Đông PL.
2555,