Người Cư sĩ Ưu Việt

  Người Cư Sĩ Ưu Việt

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

 

Lời thưa,

Thời Phật tại thế - có những cư sĩ có tuệ ưu việt, có tâm vô biên, có những hành động phi thường mà đầu óc chật hẹp của thế gian không thể suy lường nổi.

Có cư sĩ đã lót vàng mua đất để xây dựng đại tịnh xá cúng dường cho đức Phật và tăng chúng mười phương. Cũng vị cư sĩ nầy, khi gia tài đã khánh tận vì lo cho Tam Bảo, đến nỗi chỉ còn cháo tấm và bột chua, ông vẫn hoan hỷ cúng dường, không phải với tâm thô xấu mà với tâm chói sáng dịu dàng như mạ vàng ròng!

Có người cư sĩ bỏ quên chiếc áo khoác trị giá hằng triệu đồng tiền vàng ở trong chùa, sau đó tự bỏ tiền ra mua lại, lấy tiền ấy để kiến tạo một tu viện nguy nga.

Có người cư sĩ nghe pháp, an trú pháp đến nỗi gia nhân đến báo là kẻ cướp đã vào lấy hết gia sản, của cải - ông tỉnh bơ nói rằng: Nếu tài sản, tư hữu ấy là của ta, là phước báu của ta thì không ai có thể lấy được - bằng không phải như vậy thì cứ để tự nhiên cho bọn cướp lấy đi!

Có người cư sĩ tự cắt miếng thịt đùi của mình, nấu cháo cứu sống một vị tỳ-khưu.

Có vị cư sĩ có trí biện luận làm cho một vị giáo chủ không có đường đón đỡ, tức phải thổ huyết nóng.

Có những cư sĩ đắc các tầng thánh, có thắng trí, có tài biện luận vô ngại...

Ôi! Còn nhiều nữa, kể sao cho xiết hành trạng của những cư sĩ có tuệ bất động, có tâm bất động, có tín bất động, có thí bất động... vào thuở bình minh của giáo pháp. Còn thời này thì sao, thời của hoàng hôn, thời của suy tàn, thời của cành, nhánh, ngọn của giáo pháp - các hàng cư sĩ của chúng ta ra sao?

Thời này ư? Thời này cũng còn chứ, rất nhiều là khác nữa!

Ngài trụ trì chùa Bửu Long khi khởi công kiến tạo Bảo Tháp Gotama, chẳng có một đồng xu dính túi - nhưng bây giờ đã tiêu tốn cho công trình hằng chục tỷ rồi. Có cư sĩ đã bán đất để cúng dường. Có cư sĩ bán nhà to, chỉ mua nhà nhỏ ở - để có tiền mà cúng dường. Họ cúng dường từng tỷ bạc. Nhiều người như thế. Có cư sĩ thì, bao nhiêu tiền để dành trong sổ tiết kiệm, mang đi cúng hết, nói rằng, để Tam Bảo giữ gìn cho, chắc chắn và vững bền hơn! Có người lại lặng lẽ, âm thầm hứa cúng dường một lần trên chục tỷ để hoàn thiện bảo tháp... Thế thì cái tâm tín đạo của cư sĩ thời này có thua gì thời Phật tại thế đâu!

Có lần, tôi được nói chuyện với một doanh gia, ông ta bảo: Ngài biết không, bổn phận của con là phải làm ra tiền - còn bổn phận của vợ con là lấy tiền ấy cúng dường Tam Bảo. Mỗi người một việc riêng! Sau đó tôi còn được biết, mỗi năm, hai ông bà đã dành ra mười tỷ cho phước sự ấy; tuy nhiên có năm, ngân khoản cúng dường đã vượt quá chỉ tiêu ấy đến năm, bảy tỷ!

Có người cư sĩ trải qua cuộc đời chìm nổi, lãng tử phong trần - từ khi biết đạo thì luôn hào sảng cúng dường, rất là mau mắn, rất chi là nhẹ nhàng, nhẹ như mảnh lông hồng...

Và còn nhiều nữa, nhiều nữa, nhưng do tôi không biết đấy thôi!

Vậy thì rõ ràng, giáo pháp đang còn tồn tại. Nó tồn tại ở nơi tuệ, nơi tâm, nhất là nơi thí của hàng cư sĩ tại gia.

Và trong số cư sĩ tại gia ưu việt thời nay ấy, tôi muốn nhắc đến một người đặc biệt, chỉ cách đây hơn nửa thế kỷ thôi, đó là cư sĩ Lê Văn Giảng, thế danh của ngài Hộ Tông, cố Đại Sư khai sáng và có công đức hàng đầu đối với sự có mặt cũng như phát triển của Phật giáo Theravāda tại Việt Nam. Vị cư sĩ nầy có thể được coi là ưu việt nhiều phương diện: Tự mình thấy rõ sự khổ. Tự mình lần dò con đường. Tinh cần, công phu, khổ hạnh tu tập. Xả ly, nhẫn nại, bố thí, cần cầu học hỏi, giảng pháp, dạy đạo, biết cách hướng dẫn người khác tu học. Có trí, có tín, có giới, có đức và có cả công phu mật hạnh nhưng vẫn khiêm tốn, nhún nhường, vắng lặng, thanh tịnh...

Ôi! Tấm gương vằng vặc nơi cuộc đời cư sĩ của ngài cần phải được kể lại đầy đủ để soi chiếu cho hàng hậu học hiện tại và tương lai.

Tôi sinh sau đẻ muộn, thuộc hàng tu sĩ cháu con, có biết gì về thời ngài còn là cư sĩ những năm 40 của thế kỷ trước? Tuy nhiên có một duyên may nho nhỏ là trong đống sách báo, tài liệu cũ, tình cờ thấy được 02 bổn Photo về tiểu sử của ngài, mỗi bổn dài ngắn khác nhau mà bổn nào cũng không còn nguyên vẹn, thiếu mất trang này hoặc trang khác. Tuy nhiên, lạy Cố Giác Linh ngài, tôi vẫn phanh tìm ra được sự liền lạc và sự diễn tiến các sự kiện mà không bỏ mất, bỏ sót một tình huống, một chi tiết nào!

Bản cũ chỉ có 22 trang, bản mới tôi viết lại hơn 100 trang; nhưng xin ai đó đừng bảo tôi thêm thắt, hư cấu. Không phải thế. Tôi đã viết bằng trực cảm tâm linh. Từng trang một, từng trang một, hình ảnh đời ngài cứ tuần tự hiện ra - tôi nhìn, tôi nghe, tôi cảm và tôi viết. Tôi viết say mê như lên cơn sốt, như lên đồng. Tôi viết với sự hỷ lạc chưa từng có, mà tôi cảm giác không cần ăn, không cần uống - suốt 8 ngày như thế, mỗi ngày bình quân 8 tiếng.

Nghĩ mình không có cái gì để cúng dường đến Bảo Tháp Gotama; không có gì để cúng dường trong ngày trọng đại tưởng niệm kỵ giỗ ngài cũng thấy tủi thẹn trong lòng. Tuy nhiên, nghĩ lại, thấy mình còn có nhịp đập của trái tim, còn có sự run rẩy cảm xúc của những tế bào não, hãy viết lại cuộc đời của một con người - của một cư sĩ - có nhân cách lớn, có cái tâm lớn, có cái trí lớn thì nó cũng đẹp làm sao, cũng tuyệt vời làm sao! Cuộc đời ấy như lồng lộng dát vàng trăng nước sử thi, như bàng bạc khói mây non cao hạo tráng... mà thế gian này sợ rằng không còn nữa! Và đây, chỉ xin như là một nén hương, một thỏi trầm để tưởng niệm - còn ngát ngào và thấm đẫm tinh khôi đạo vị và pháp vị của giọt nước trong tự suối nguồn nguyên thủy!

Cuối cùng, tôi còn nghe được tiếng chim trên đỉnh trời Linh Thứu (Gijjkakūa) vọng xuống giữa tâm thức nhân gian đang nhiều tối tăm, ngật ngầy cát bụi lầm than và khổ nạn nầy!

Viết tại Am Mây Tía
Từ ngày 07/5 đến ngày 15/5 năm Kỷ Sửu - tháng 6/ 2009
Phỏng dựa theo 02 bổn Photo đề T’imonom,
ngày 22 tháng 7 năm 1969 - không thấy tên tác giả -
cùng một số tư liệu lác đác chỗ này, chỗ kia nữa.
Tỳ-khưu Giới Đức

Chỉ là

một con người bình thường!

Thế danh là Lê Văn Giảng, sinh năm 1893, con của ông Lê Văn Nhu và bà Đinh Thị Giêng - trong một gia đình khá giả tại làng Tân An, quận Tân Châu đồng ruộng xanh tươi; và tỉnh Châu Đốc bạt ngàn sông nước, tại miền Nam - Nam Việt.

Cũng giống như các gia đình thuộc giai cấp trung lưu thời ấy - ấu thơ, ông được học Hán văn và Việt ngữ tại trường tiểu học ở quê nhà. Năm 1913, 20 tuổi, lấy xong bằng Primère [1], ông phải sang kinh đô Nam Vang học Pháp văn tại trường trung học Sisavatt (Collège Sisavatt). Mới học được một năm, 21 tuổi, gia đình bắt ép ông lập gia đình vì thân mẫu đã già yếu, trước khi nhắm mắt, bà muốn thấy con trai có đôi, có lứa. Nghe lời mẹ, lập gia thất, có bạn đời rồi nhưng sự học của ông vẫn không bị ảnh hưởng. Đang vừa năm thứ tư, 24 tuổi, 1917, thì ông đã có con trai đầu lòng. Nghĩ đến hoàn cảnh gia đình và trách nhiệm của người cha, ông thi đậu vào sở Bưu Điện, làm việc ở đây có đồng lương để đỡ đần cho vợ, cho con. Tuy nhiên, cũng trong năm này, đến kỳ Diplôme [2], ông vẫn thi đỗ. Có bằng cấp tương đối rồi, năm 1919, ông bỏ sở Bưu Điện lương thấp, xin được làm việc nơi sở Giáo Huấn - tức là sở Giáo Dục bây giờ - lương khá hơn.

Làm việc ở sở Giáo Huấn chỉ hơn năm, 1920, ông thi đậu vào ngạch thư ký Phủ Thống Sứ Nam Vang rồi làm việc ở đây với đồng lương cao hơn nữa. Tuy nhiên, chí trai không dừng lại ở đây, phải thăng tiến sở học cùng con đường công danh, sự nghiệp - ông đã từ bỏ chức vụ danh giá ở Phủ Thống Sứ, ra Hà Nội thi vào trường Cao Đẳng, chuyên ngành thú y Đông Dương. Bốn năm sau, tốt nghiệp, ông trở về làm việc tại kinh đô Nam Vang. Năm sau, 1925, ông đi nhậm chức tại tỉnh biên thùy Sray-Riêng, giáp ranh biên giới Nam Việt.

Đến lúc này, năm 1926, 33 tuổi,  ông đã có đủ địa vị, tài sản, có chức có phận, có nhà cửa, có xe và có tài xế riêng; cuộc sống gia đình dư dả, ổn định. Làm việc tại tỉnh Sray-Riêng, ông gặp lại một người bạn Pháp, sếp của sở Kinh Lý; mỗi chiều thứ bảy, ông sếp Tây này rủ ông về Sài Gòn chơi. Nể tình, và cũng ngại mất lòng bạn, ông nhận lời. Thế rồi, như bao trai thanh niên có tiền có bạc khác, ông theo bạn đi vào con đường vui chơi hưởng thụ. Tuy nhiên, được cái, ông Tây là người trí thức, thanh lịch mà ông cũng là người đàng hoàng, mô phạm. Họ ở khách sạn sang trọng, chỉ mời ca-ve, vũ nữ đến ca hát, nhảy múa, ăn uống vui giỡn no say rồi trả các cô về.

Tiếng gọi từ quá khứ: Tu thôi!

Ham vui như thế được bốn kỳ. Đêm kia, đang ngủ trên giường thì ông mơ màng nghe tiếng vọng bên tai như khuyên răn, dạy bảo, nhắc nhở: “Người say mê ngũ dục thì không sao tránh khỏi sa đọa vào bốn đường ác! Hãy nhớ như vậy!” Tỉnh dậy, ông toát mồ hôi, tim đập thình thịch... và lời nói kia như chỉ vừa chìm mất giữa không gian. Xem đồng hồ: Lúc ấy là 4 giờ sáng! Thế rồi, ông ngồi lặng lẽ, trầm ngâm, nội tâm bắt đầu bất an, xao xuyến... tự nhủ rằng: “Ừ, mình bậy quá! Có vợ có con rồi mà còn ăn chơi nhảm nhí, hư thân mất nết! Bậy quá, mình bậy quá!” Tự trách một hồi, ông đi tìm tài xế, lay tỉnh, rồi bảo tức khắc lái xe trở về Sray-Riêng, lúc ấy mới 4giờ 30 sáng.

- Sớm quá, bác sĩ ạ! Sáng hẳn hay!

- Không! Đi ngay! Tui [3] bồi dưỡng xứng đáng cho ông!

Trên đường đi, ông cứ bị ám ảnh mãi câu nhắc nhở của vị thiên thần nào đó - mà thấy thẹn trong lòng. Rồi ông suy nghĩ: “Ngũ dục thì ta mang máng hiểu, chắc trong đó có sự say đắm sắc dục! Còn bốn đường ác là bốn con đường nào ha? Thiệt là bậy quá! Đây là cái tội không chịu đọc kinh, đọc sách! Cứ thỉnh kinh sách về đầy một tủ, rồi quăng đó, có bao giờ đọc đâu! Bây giờ biết làm thế nào? Vậy chắc là phải tu thôi! Nhưng tu như thế nào? Tu cách nào? Hóa ra ta chưa biết gì về điều này cả! Thiệt là tệ quá! Thiệt là bậy quá!”

Về đến nhà, ông liền bước vào tủ kinh sách. Đa phần là sách chữ Pháp, một số chữ Hán, một ít chữ Việt và cũng khá nhiều chữ Miên. Ông để ý một quyển sách chữ Việt, có tựa đề là “Hồi dương nhân quả”. Ông đọc ngay! Đọc xong, ông cảm giác mơ hồ là có cái gì đó có tính cách và hơi hám tín ngưỡng nhân gian chứ chưa phải là chánh đạo thứ thiệt! Ông tiếc không biết chữ Miên, nếu không, kinh Phật chữ Miên thì nhiều lắm! Tuy nhiên, biết sao hơn! Cuối sách, có dạy rằng, ai có tâm tu học, muốn theo hạnh Phật A-di-đà thì chờ đến ngày 17 tháng 11 (là ngày vía Di-đà) - đúng 20 giờ tối, tắm rửa sạch sẽ, sắm hương hoa quả phẩm thiết lễ rồi phát nguyện tu hành.

Gần đến ngày “tu”, ông nhắm chỗ trân trọng nhất trong nhà, sắm chiếc bàn mới, đặt tượng A-di-đà, lư hương, hoa, quả phẩm...

Bà thấy ông lăng xăng mà khuôn mặt có vẻ thành kính, ngạc nhiên hỏi:

- Ông làm cái chi đó?

- Tui tu!

Rồi ông không giải thích thêm. Bà hỏi:

- Tu làm sao? Tu ra sao?

- Đơn giản thôi! Sau khi phát nguyện, từ đó tụng kinh Di-đà, niệm Phật Di-đà, lạy Phật Di-đà và ăn chay mỗi tháng mấy kỳ đó!

- Dzậy [4] thì cho tui tu với!

- Tốt, dzậy thì bà cứ tu với tui!

Bữa nọ, ông thân sinh của ông đến thăm, nghe tin ông tu, mừng lắm:

- Tao theo bạn bè nơi chùa Sùng Phước, ăn chay trường, niệm Phật Di-đà, thấy lòng thanh thản, nhẹ nhàng lắm!

- Con bây giờ mỗi tháng chỉ mới phát nguyện có 6 kỳ (lục trai) mà thôi!

- Ban đầu thì dzậy, từ từ thôi, nôn nóng chi!

Tu vậy cũng chưa phải!

Được hơn tháng, ông đổi về làm việc tại kinh đô Nam Vang. Ở đây, ông gặp lại người bạn cũ, Pháp lai Việt, đang làm chủ một hãng rượu lớn. Trong lúc nói chuyện qua lại, ông kể cho bạn nghe sự hối hận, ray rức không yên - trong mấy lần vui chơi nhảm nhí ở Sài Gòn, và bây giờ chỉ muốn tu thôi! Hiện mỗi tháng đã ăn chay được sáu ngày.

- Tốt! Nhưng bạn thua tôi rồi! Ông bạn Pháp lai Việt mỉm cười - Tôi cũng tu, cũng ăn chay, nhưng mỗi ngày chỉ một bữa ngọ trai thôi, buổi chiều không ăn, buổi sáng không ăn!

Nghĩ mình tu mà thua bạn, không được, ông bắt chước tu theo bạn, mỗi ngày chỉ ăn một bữa chay!

Tháng sau gặp lại, ông phấn chấn nói cho bạn nghe rằng mình cũng tu được như thế. Lần này, ông bạn lại cười:

- Bạn vẫn thua tôi mà thôi!

- Tại sao?

- Bạn ngọ trai, chay tịnh - nhưng mà phải có cơm hoặc bắp đậu gì đó, phải chăng? Tôi bây giờ bước lên một tiến bộ khác - là chỉ dùng rau trái, củ quả như khỉ dzậy, không đụng đến ngũ cốc!

Vì nhu cầu nhân sự, ông được sai phái đi công cán tại tỉnh Sray-Riêng như cũ. Tại đây, ông tức mình, nghĩ rằng, tu mà cũng không bằng người, nên bắt đầu chỉ ăn rau trái, củ quả trong các buổi ngọ trai. Một tháng rưỡi sau, do ít đạm, thiếu tinh bột, không có muối - người ông cứ yếu lả dần đi. Hôm kia, ông bị bệnh kiết trầm trọng, phải chở về bệnh viện trung ương ở Nam Vang để điều trị. Lành bệnh xong, ông làm việc tại đây, không trở về Sray-Riêng nữa.

Ông thân sinh đến thăm, khuyên lơn:

- Tu là tu cả đời đó con! Không có chi phải gấp gáp, nóng nảy cả. Vả lại, đức Phật, ngài đã từng bỏ lối tu ép xác, khổ hạnh cực đoan vô ích, vô lối đó. Con còn phải làm việc, con phải còn nuôi gia đình, vợ con nữa mà!

Nghe lời khuyên bảo ấy, ông dùng chay bình thường, nhưng là chay trường. Hễ rảnh là tụng kinh, nhất tâm tụng kinh. Ông thân sinh đã trang bị cho ông tương đối đầy đủ các bản kinh chữ Việt hoặc chữ Hán như Phổ Môn, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Lương Hoàng Sám, Địa Tạng... Ông còn chí thú, tín thành, chịu khó, kiên nhẫn, lạy hồng danh 108 lạy mỗi đêm nữa...

Thấy ông tu “kinh khiếp” quá, tiếng lành đồn xa. Ai cũng bảo rằng, ông là tại gia cư sĩ mà giữ giới trong sạch, công phu chí thành; chắc là sẽ có oai lực, công năng hơn cả những vị thầy tu xuất gia kia đấy!

Thời gian ấy, vùng ông ở bị nắng hạn, đại hạn, mùa màng khô cháy - có ngôi chùa kia các thầy tu tụ họp lại, tụng kinh đảo võ (cầu mưa) mà không linh nghiệm. Mọi người sực nghĩ đến ông, mời ông đến tụng kinh, mong nhờ oai lực của ông để cho thiên hạ được nhờ. Thấy mọi người thành khẩn quá, ông nhận lời; nhưng cũng không tự tin lắm, nghĩ rằng: “Mình tu hành có bao nhiêu, có hạnh có đức gì đâu mà oai với lực! Nhưng thôi, thiết nghĩ là mình cứ có tâm chí thành là được, biết đâu đất trời có cảm ứng?”

Thế rồi, nhất tâm kính thành, ông hết lòng hết dạ tụng kinh, cổ khô, giọng khản - ngày thứ nhất, bầu trời có hiện tượng âm u, mây bắt đầu kéo về. Ngày thứ hai, mây nhiều hơn, có gió nhẹ và trời lắc rắc mưa. Ngày thứ ba, mưa gió, sấm chớp rầm rầm; mưa thật to tràn ngập phố phường, ao hồ, đồng nội. Mọi người sung sướng cảm tạ trời đất, vái tạ thần linh và không quên cảm tạ và tri ân ông thầy tụng kinh có pháp thuật nhiệm mầu! Riêng ông, thì ông cũng không tự tin lắm: “Hay là có sự trùng hợp ngẫu nhiên kỳ diệu  nào đó chăng?”

Đã tìm ra manh mối?

Ôi! Việc gia đình muôn thuở!

Năng lực định thiền!

Từ đây, dường như con đường tu hành của ông cứ thế mà mát mái tay chèo, tâm trở nên an ổn, được mọi người kính trọng, nể phục! Nhưng mà không, một tiếng gọi kêu nào đó mơ hồ trong vô thức cứ réo gọi ông từng đêm. “Được rồi! Tốt rồi! Nhưng mà không phải vậy! Tụng kinh đảo võ linh nghiệm được mưa là ghê gớm lắm chắc? Được mọi người tán dương, nể phục là oai lắm chắc? Hãy thử lắng nghe đi! Tâm của ông đã thật sự yên bình chưa đó? Trí của ông đã thật sự sáng tỏ chưa đó”.

Lại giật mình, lại như một lần xưa trước, ông toát mồ hôi lạnh, tim đập thình thịch. Ông bắt đầu bỏ nhiều thì giờ hơn cho việc nghiên cứu kinh sách. Có một số sách tiếng Pháp, ông mới tìm được đã bổ sung cho sự thiếu sót này. Nhờ vậy, ông biết về cuộc đời đức Phật và một số căn bản về giáo pháp nhân quả nghiệp báo phổ thông - ví dụ như trồng dưa được dưa, gieo đậu được đậu! Tri kiến ông đã có một vài thay đổi nho nhỏ.

Khoảng năm 40 tuổi, 1933 - gia đình ông đã sung túc có của dư, của để. Ngoài đồng lương rất lớn, gấp mười công nhân bình thường, ông được mọi người mến mộ, quý trọng; lúc nào lộc cũng cứ phát sanh mãi, không nhận cũng không được; nhưng ông có nguyện trong tâm rằng: “Thôi được rồi! Thôi được rồi! Rồi ta sẽ làm phước, ta sẽ hùn góp công đức vào chỗ này, chỗ kia”. Ông hiện có hai ngôi phố lầu khang trang, hiện đại - theo mẫu mã kiến trúc Pháp. Một cái để ở, một cái cho thuê. Con cái đều được học hành ở các trường có chất lượng, uy tín. Chẳng có gì phải lo về vật chất nữa. Công việc ở sở làm cũng đã nhẹ nhàng. Những nhân viên phụ tá tay nghề đã cao, họ có thể cáng đán, lo liệu được hết; ông chỉ quản lý có tính cách hành chánh và giải quyết một số công việc liên hệ chuyên môn cao. Do vậy, bây giờ ông có nhiều thì giờ hơn cho việc nghiên cứu và tu hành của mình.

Hôm kia, vào một buổi sáng, ngồi trên bộ ván ngựa trước nhà, thấy bà đi ra trước cửa mua đồ, ông chợt thấy cái bụng của bà đã “lùm lùm”, dường như có thai đã vài ba tháng. Ông chột dạ, nghĩ thầm: “Mang thai như vậy, mẹ nó khổ đã đành mà đứa con trong bụng cũng khổ! Cái này đức Phật gọi là khổ sinh đây! Cái khổ của họ là tại ta, là do ta mà ra cả! Vì dục lạc mà ta đã làm cho người khác khổ, thiệt là bậy quá!”

Sau hôm đó, chẳng tuyên bố lý do gì hết, ông thu xếp cuộc sống “ly thân” với bà vợ, nhưng nói chuyện với cả nhà một cách tự nhiên rằng:

- Từ rày, tui với ba đứa con trai ở lầu trên; bà với hai cô con gái ở tầng dưới. Hai bên tạm thời phân chia lãnh thổ, ai có chỗ nấy, đừng xâm phạm nhau đó!

Thoáng nghe câu nói, bà biết liền. Nữ giới rất sắc bén và rất nhạy cảm trong việc đánh mùi! Chỉ thoáng một câu nói, một cái nhìn, một thái độ cư xử là họ biết ngay cường độ, tín hiệu tình cảm của “đối phương”! Bà buồn, nhưng bà cũng lặng lẽ không nói gì, chỉ đi đánh tứ sắc để giải khuây mà thôi!

Một hôm, ông thân trông thấy hai cháu chơi giữa đường suýt nữa bị xe cán. Vừa đi làm việc về, ông bị ông cụ la rầy, không biết dạy dỗ, trông nom con cái cho đàng hoàng. Ông nhận lỗi, không thấy bà đâu liền đi tìm. Gặp bà đang đánh tứ sắc tại nhà em gái bà, ông nói:

- Hai trẻ suýt bị xe cán! Ông thân trách bà ở nhà mà không biết chăm lo cho con cái đó!

Mắt vẫn không rời quân bài, bà cất giọng thủng thỉnh:

- Con với cái chi? Tui có là vợ của ai đâu mà nói chuyện con với cái với tui!

Nghe vậy, ông lặng thinh, chịu đựng, ra về.

Ông có cô em gái làm dâu nhà người. Hôm kia, cô ôm bọc áo quần, trở về nhà khóc tức tưởi. Hỏi ra mới biết là bị chồng đuổi.

Ông cụ lại rầy la ông:

- Sao con không tìm cách nói chuyện phải trái với em rể - để lâu lâu nó lại đánh đuổi em con ra khỏi nhà như dzậy?

Ông chẳng biết biện hộ sao, chỉ nói rõ sự thực:

- Vì em con quá hỗn láo, mắng chưởi chồng nó nhiều lần quá - con làm sao trách lỗi em rể con được!

Nghe trả lời thế, ông cụ nổi xung lên:

- Với vợ, con tìm cách ly thân, không thèm gần gũi. Với con, suýt bị xe cán, con tỉnh bơ. Với em gái, con lạnh lùng, dửng dưng chẳng bênh vực cho nó được một tiếng! Đó là tình cảm gì? Có còn là tình cảm con người, có còn là tình cảm gia đình, huyết thống nữa chăng?

Ông nhận chịu sự trách mắng, thấy ông cụ nói chẳng có lời nào sai trong tình cảm đời thường, trong cái lý thường tình - nhưng mà quả thật không phải vậy, không phải vậy! Sự thực như thế nào ở trong tâm ông biết, trong tâm ông hay, không thể nào nói cho người khác hiểu được.

Thế là, sau cơn giận ấy, ông cụ không ở chung với vợ chồng ông nữa, hầm hầm trở về căn nhà cũ, cách đấy chỉ một con phố. Ông bảo bà đi xin lỗi ông cụ. Bà đi, bị ông cụ đuổi về, thế là bà cứ cằn nhằn, cằn nhằn ông mãi. Mỗi lần như thế, để chiến đấu với mọi khó chịu, phiền não; ông nhắm mắt tham thiền, đa phần là chú tâm vào hơi thở, đôi khi niệm danh hiệu Buddho, Arahaṃ..., đôi khi là đề mục đất, đề mục ánh sáng... Nhờ một số sách do người Pháp soạn dịch hoặc biên khảo mà bây giờ kiến thức Phật học của ông đã có chất lượng đáng kể. Ông cũng đã tập tành tu định tâm từ. Thế rồi, hằng đêm, thay vì tụng kinh, ông hành thiền, khi đề mục này, lúc đề mục khác... đến sáng mà ông chẳng hay. Có điều là ông không mất sức khỏe, trái lại nội tâm càng ngày càng an lạc, thanh tịnh.

Thấy ông cụ giận quá lâu, ông nghĩ, có lẽ tâm từ chuyển hóa được. Nên hằng đêm, ông chú tâm vào định tâm từ rồi chuyển năng lượng của tâm từ ấy đến nơi chỗ ông cụ, bao phủ cả ông cụ, bao quanh ông cụ... cho đến lúc năng lượng ấy phát sáng. Để thử hiệu quả của tâm từ, ông đích thân đến ông cụ, lạy tạ xin lỗi. Lạ lùng sao, ông cụ tha lỗi dễ dàng và còn vui vẻ nữa mới kỳ chứ! Từ đấy, ông cụ trở lại nhà sum họp với con cháu, đầm ấm như xưa! Trong câu chuyện, ông nói chuyện chi, bàn chuyện chi, ông thân sinh một mực nghe theo. Ông khởi ý làm một cái cốc (thất) cho ông cụ ở tại chùa Mahāmontrey để ông cụ có chỗ tĩnh thiền, ông cụ bằng lòng ngay!

Sau vài thành công nho nhỏ ấy, ông tự nghĩ: “Pháp Phật vô biên, mình mới tu được chút ít mà đã lắng dịu phiền não, an lạc được như thế này; vậy thì phải cố gắng, tinh cần đi xa, đi sâu hơn nữa!”

Tại chùa Mahāmontrey, sau khi xin phép sư cả, ông làm một cái cốc cho ông cụ, một cái cốc sơ sài cho mình. Thấy gần bên cạnh còn có bốn cốc lá, hỏi của ai - thì hóa ra đấy là 4 ông phán, bạn cũ của ông. Trao đổi chuyện, 4 ông phán đều nói:

- Chúng tôi tự nguyện, bắt tay nhau, thề với nhau - là làm sao tu thiền để diệt dục! Bạn có dám khởi tâm đồng hội, đồng thuyền chăng?

Ông thận trọng đáp:

- Diệt dục được hay không tui không dám chắc - nhưng các bạn tu đến đâu thì tui ráng tu theo đến đó, không bỏ cuộc nửa chừng đâu!

Thế rồi, tại nơi những chiếc cốc lá giữa vườn rừng hoang vắng này, đêm đêm có những người “thi gan hành thiền diệt dục”! Nhưng, hai tháng sau, hai ông phán bỏ cuộc. Bốn tháng sau, ông phán thứ ba bỏ cuộc. Tám tháng sau, ông phán thứ tư bị vợ đến lôi về, không thể diệt dục nổi với bà! Hóa ra chỉ có ông là còn lại, mà ông đâu có tu diệt dục, ông chỉ đi sâu vào định mà thôi.

Có một hôm trời đang chuyển mưa, gió ào ào, mây giăng mù mịt. Tự dưng, ông khởi lên ý nghĩ: “Đọc kinh sách thấy năng lực định thiền thật bất khả tư nghị. Người định thiền thâm sâu thì không có cái gì như gió bão, nước lửa xâm hại được - cho chí các vật dụng xung quanh cũng bất khả bị xâm phạm như thế! Vậy mình hãy kiên trú định thâm sâu xem thử mưa gió này nó làm gì nào!?” Thế rồi, lúc ấy khoảng 20 giờ tối, ông ngồi thiền trong cái cốc lá chỉ gá vách sơ sài. Trời bắt đầu sấm chớp đì đùng, rồi lát sau, mưa như trút, gió như bão. Ông trú tâm, chỉ chừng vài phút là ông không còn biết gì nữa cả.

Sáng ngày, xả thiền thì trời đã sáng bạch. Nghe tiếng xôn xao bên ngoài, ông bước ra. Trời ơi! Xung quanh, tất cả đều tan hoang! Tất cả mọi tấm lợp dù tôle hay lá, tường vách dù nứa hay gỗ đều bị quăng quật, xé rách tả tơi! Chỉ có cái cốc sơ sài của ông là yên ổn. Mọi người trong chùa xôn xao bàn tán, chỉ chỏ. Vị sư cả và cụ thân sinh ông từ đâu đó bước lại.

Vị sư cả chỉ cái cốc nguyên vẹn của ông rồi cười nói:

- Chính ông đã xác định cho tôi thấy, cái khó tin nhất, có vẻ huyền bí nhất - lại được chứng minh rõ ràng, cụ thể nhất!

Ông cụ thân sinh thì cười hỉ hả:

- Tuyệt! Pháp Phật quả là nhiệm mầu! Ông tu cũng ghê quá đó chớ!

Vị sư cả tâm sự:

- Tôi sống lâu ra lão làng, tu lâu thì thành sư cả. Do thất học từ nhỏ, chữ nghĩa có được mấy hơi, tu hành thì chỉ có được cái tụng kinh, lễ Phật, hành tăng sự, lo những lễ này lễ kia cho Phật tử - chứ tọa thiền, tu tập như ông cư sĩ đây, nói ra thì tôi rất hổ thẹn! Hãy cố gắng thêm nữa ông cư sĩ nghe! Cái góc vườn này nhờ quý ông mà nó có được sự xán lạn và vinh quang đó!

Ông nhũn nhặn, nói rõ sự thực:

- Sư cả cứ khiêm tốn mãi! Cái đức nhiếp chúng của sư cả, mấy chục vị tỳ-khưu được yên ổn, thanh bình như thế nào - đâu có phải là dễ dàng chi!

Sư cả cũng cười vui:

- Không dám đâu!

Sau khi cốc liêu được sửa sang lại. Các ông phán hay tin, thỉnh thoảng cũng xin bà nhà được lên hành thiền một đôi hôm, không phải là diệt dục nữa, mà cố đạt năng lực siêu phàm như ông bạn bác sĩ của mình!

Nơi cái cốc lá sơ sài của ông, như vậy, hằng đêm, dường như đêm nào cũng có chuyện lạ, ai cũng chăm chăm nhìn. Có đêm, dường như bên đó tỏa ra cái khí gì mà rất mát mẻ. Có đêm, thì ánh sáng tỏa ra, vàng rực cả cốc. Ông cụ và các ông phán, đôi khi cứ xem mê mải quên cả việc hành thiền của mình.

Bị dụ dỗ sai đường!

Việc hành thiền được ông tiến hành đều đặn. Thường ngày ông vẫn đi làm việc. Sớm, điểm tâm rồi đến công sở, trưa, dùng cơm tại nhà. Chiều bãi sở về, có sữa có nước trái cây gì dùng qua quýt, sau đó lên cốc, hành thiền cho đến tận sáng.

Có một thầy Bắc tông nghe tiếng tìm đến thăm, gợi chuyện:

- Ông hành thiền có năng lực. Nhưng nếu bây giờ chỉ ăn chay đúng ngọ, ăn cơm lạt với nước sôi tinh khiết - thì năng lực kia sẽ vượt trội hơn nữa!

Không biết ông có phải là người cả tin hay không, nhưng ông lại thực hành thử theo cách ăn mới. Được bốn tháng, không thấy năng lực định thiền khá hơn mà người lại yếu nhược đi. Là bác sĩ thú y, nhưng ông cũng biết rằng, nếu không có muối thì thời gian sau ắt sẽ bị bệnh thủng - nên ông bỏ. Khi ăn uống bình thường trở lại, định thiền trở lại như cũ.

Lại có một cư sĩ Bắc tông tìm đến, tỏ vẻ chê phương pháp của vị thầy kia, nói rằng:

- Không phải dzậy đâu! Các năng lực huyền bí chỉ phát sanh nơi những người ăn cơm trộn với giấm kìa! Bên Mật tông người ta dạy như dzậy. Ông hãy thử xem, ít tháng là có hiệu quả ngay!

Có lẽ do nghiệp hành - nghiệp đến trả quả - nên ông cũng tin. Ăn cơm trộn với giấm, được tám tháng thì một ông bạn bác sĩ tới thăm, cười chê không hết lời:

- Ông bạn quên rồi sao? Mọi kiến thức y khoa quăng vất đâu cả rồi? Ông đã bắt đầu xanh xao đó mà không thấy sao? Giấm - chính nó là nhân tố thủ phạm, sẽ hủy hoại tất cả mọi hồng huyết cầu, ông sẽ khô máu mà chết!

Sợ hãi, ông bỏ cơm trộn giấm, ăn chay bình thường, người khỏe và hồng hào trở lại.

Trong một buổi ngoạn du cùng bạn hữu đồng đạo, nghe nói trên núi Xà Tớn tại Châu Đốc có một thầy người Việt tu thiền hay, ông cùng mọi người đến cúng dường, thăm viếng và học hỏi.

Ông thầy Việt bảo:

- Phải quy y rồi tôi mới dạy thiền cho!

Ông đồng ý nhưng nói:

- Nếu quy y rồi nhưng thấy pháp thầy dạy chẳng có chi hay hoặc thực hành không có hiệu quả - con có quyền không thọ giáo nữa, được chăng?

- Được, không sao cả!

Quy y rồi, ông thầy dạy cách tu. Hóa ra là chỉ lạy và niệm Phật: Lạy một lạy, niệm danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật, đầy đủ cả lục tự (sáu chữ)!

Đêm đó về lạy và niệm. Tự dưng ở đâu đó trong vô thức hoặc đâu đó giữa hư không, có tiếng nói: “Trật, trật rồi! Lại trật nữa rồi!”. Giật mình, ông tự nghĩ: “Mình lạy 108 lạy rồi niệm hồng danh 108 vị Phật và Bồ-tát mà cũng không ăn thua - huống chi đây chỉ lạy và niệm mỗi một vị Phật, uy lực ở đâu kia chớ? Lại nữa, mình tu tập định, mình đã an trú định và đã có năng lực định phát sanh - cho nên mình biết rõ về định. Ông thầy Việt này dạy thiền mà niệm đến 6 chữ Nam-mô A-di-đà Phật, tâm ta phân tán đến 6 nơi thì làm sao quy tụ được vào nhất điểm mà gọi rằng định. Trật là đúng rồi!” Một lát, ông nghĩ tiếp: “Mình sao cả tin đến dzậy? Từ rày, không tin bậy nữa, nghe người ta nói gì, hãy suy nghĩ cho chín chắn, cho thấu đáo trước đã”.

Rồi từ đó, ông không đi đâu nữa, không hỏi ai nữa, chiều tối là lên cốc, lặng lẽ thiền định ngày này sang ngày khác.

Chuyện đời...

Hôm kia, bà nói chuyện với ông:

- Ông tu chi mà tu hoài dzậy?

- Tui tu để diệt khổ, bà nó ạ!

Bà nhìn ông, chậm rãi:

- Tui thấy ông cứ bận rộn, lăng xăng tu cái này, tu kiểu kia hoài. Coi bộ ông càng tu, càng khổ thì có!

- Không đâu, tui tu khá lắm, ai cũng khen. Sư cả chùa Mahāmontrey cũng khen tui đó!

Bà cất giọng buồn buồn:

- Trước đây ông có nói với tui là sẽ tu ba năm - bây giờ đã qua cái hẹn đó mấy năm rồi, ông có nhớ không?

Ông thẩn thờ:

- Quả có dzậy! Quả tui có nói như dzậy thiệt. Nhưng hồi đó tui đâu có biết chi về con đường tu hành! Bây giờ biết rồi thì không phải đơn giản như dzậy. Tu cả đời, tu nhiều đời, nhiều kiếp chưa chắc đã diệt hết tham sân si, phiền não đâu bà nó ơi!

Giọng bà đã bắt đầu có vẻ gắt gỏng:

- Ông tu cả đời, rõ rồi! Và tui cũng đã thấy rõ cái quyết tâm ấy của ông. Thế là ông bỏ tui, cưới tui về rồi ông quăng vất giữa chừng? Nửa đường đứt gánh! Ông nói cho tui nghe thử coi?

- Thôi mà bà! Tui van xin bà! Chúng ta dù sao cũng tình nghĩa vợ chồng; ăn ở với nhau đã có 6 mặt con, ít ỏi chi? Bà nói nho nhỏ kẻo con cái nó nghe!

Bà vùng vằng:

- Tui cứ nói, không nhỏ, không to gì hết! Sự thực đúng dzậy mà! Ông đã đành đoạn bỏ tui! Ông chẳng thèm ngó ngàng chi đến tui nữa.

- Không phải dzậy đâu! Chúng ta đâu còn “trẻ mỏ xuân thì” chi nữa? Sáu đứa con là quá đủ rồi! Chúng ta phải biết chỗ nào là đủ để dừng lại chớ? Cái tình thì không thể nồng nàn như thuở mới cưới, nhưng chúng ta cũng còn cái nghĩa phu thê mà!

- Thôi đi! Đừng lấy cái nghĩa phu thê ra mà vuốt ve, ỡm ờ tui nữa. Tui không phải là con nít. Tui không còn là con gái nhà quê tóc kẹp đuôi gà, đừng phỉnh phờ tui nữa! Nếu ông tu trọn đời thì phải viết giấy ly hôn để tui còn rộng đường mà tái giá...

Ông nín nhịn, nuốt nhẫn vào lòng:

- Bà nói chi những lời đau xót! Tui đi tu chớ có chơi nhỡn, chơi bời hoặc chạy theo hình dong bóng sắc của một ai đâu? Thương nhau thì phải thông cảm cho nhau chớ?

Thấy bà cứ khăng khăng, có vẻ như không còn lọt vào tai những lời nói phải nữa, ông xuống giọng:

- Thôi, thế bà ưng chi tui chấp thuận nấy. Nhà cửa, gia sản, con cái - tui giao cho bà hết đó!

- Không cần - bà lắc đầu - tui không cần ham hố dzậy đâu! Ông hãy lấy giấy rồi viết lời cam kết như thế nầy: “Tôi nguyện tu trọn đời. Nếu vợ tôi ở dzậy được để vì chồng, vì con thì tốt; bằng không, bà có quyền tái giá. Nhà cửa chia đôi, đồng lương chia đôi; và bà muốn mang đứa con nào đi theo thì tùy ý. Nếu tôi không thực hiện được lời cam kết này, bà có thể kiện tôi ra tòa!”

Bà nói sao thì ông làm vậy. Viết xong, ông giao giấy cho bà. Bà chỉ liếc chứ không xem, rồi cầm tờ giấy mà gục khóc nức nở.

Việc vậy rồi thôi, một thời gian được trời yên biển lặng; nhưng ông biết, bên trong, sóng ngầm vẫn còn réo sôi, giao động dữ lắm.

Trưa ấy, dùng cơm theo lệ thường, các con đi vắng cả. Ông lặng lẽ ăn, không nhìn bà, không nhìn qua nhìn lại; thật ra, ông đang ăn mà tâm vẫn dính đề mục thiền. Bà thấy bực, lấy tay xô ông một cái. Ông vẫn tự nhiên không hề có phản ứng gì. Bà tức giận hầm hầm, nói to:

- Cứ ăn, cứ ăn mà không nói chuyện chi hết!

Lát sau, bà nói nữa:

- Cái con người chi mà trông giống cục đất, cục đá dzậy không biết!

Ông vẫn làm thinh. Bà đứng lên, xô ông một cái nữa rồi quăng đũa, quăng chén bỏ đi. Ông vẫn ngồi một cục, một đống, tham thiền!

Một chiều nọ, trời mưa lâm thâm, làm việc về, ông liền thay đồ để đi lên cốc. Vừa bước ra ngưỡng cửa, bà chận lại, rồi chỉ vào cái ghế dài bên tường:

- Ông ngồi đó!

Ông ngồi xuống.

Bà ngồi xích gần một bên. Thế thôi!

Lát sau, bà nói:

- Thôi đi đi, đi tu đi!

Nghe lời, ông đứng dậy; bà liền nắm quần kéo giật xuống nghe một cái “roạt”, rách cả cái túi quần, buộc lòng ông phải ngồi xuống trở lại.

Bà lại ngồi gần bên một xíu nữa.

Lâu sau, bà lại nói:

- Thôi đi đi, đi tu đi!

Nghe lời, ông đứng lên, bà lại kéo giật áo làm rách toạc một đường ở đâu đó nữa. Lại phải ngồi xuống trở lại nhưng ông cũng không nói gì - vì lúc ấy, ông đang rải tâm từ đến cho bà. Cuối cùng, biết chẳng làm gì được “ông Phật” ấy, bà nói:

- Thôi! Thử ông chút xíu thôi! Hãy đi đi! Tui không thèm cản nữa đâu!

Như được lệnh đại ân xá, ông ra lấy áo mưa, đạp xe máy lên cốc. Ông cảm thấy sao mà sung sướng quá, ví như chim thoát khỏi lồng. Gởi xe tại chùa, xắn quần lội bộ đến cốc, chùi sạch chân, leo lên tọa cụ ngồi thiền - ông thấy sao mà hạnh phúc và an lạc quá trời!

Trưa hôm kia, đi làm về thì có ông chú ruột - em ông thân sinh - đến thăm.

Ông mời ngồi, mời nước.

Ông chú nói:

- Cháu mạnh giỏi?

- Dạ!

Ông chỉ có nói một tiếng như vậy chứ không biết nói gì nữa. Hỏi thăm sức khỏe thì có vẻ khách sáo! Nói chuyện đạo thì chắc ông chú không thèm nghe! Nói chuyện đời thì biết chuyện chi mà nói, mà có nói thì để mà làm chi, vô ích và phù phiếm quá. Do nghĩ vậy nên ông lặng thinh.

Ông chú ngồi một hồi, thấy cháu mình không niềm nở, buồn, nên ông kiếu:

- Thôi, tao về!

- Dạ!

Thế đấy! Quả thật, khi người ta tu đã có thân, khẩu, ý chân thực rồi thì không biết nói gì cả. Ông tiếp khách mà chỉ có hai tiếng, trước dạ, sau dạ!

Một bữa khác, có người em ruột đến nhà, báo tin:

- Anh ơi! Con tôi đau nặng quá!

- Dzậy hà - ông nói - có thân thì có bệnh, có đau chớ có chi lạ đâu!

Rồi ông cũng không biết nói gì nữa.

Người em ngồi một hồi, buồn, cũng đứng dậy ra về.

Mấy bữa sau, ông em đến nữa, báo tin:

- Con tôi chết rồi, anh ơi!

Ông đáp:

- Đó là định luật tự nhiên mà em! Có sống thì tất là phải có chết chớ!

Rồi ông lại lặng thinh, không biết nói gì nữa, không biết khuyên lơn, an ủi như thế nào! Sau đó, ông cũng đến thăm, chia buồn, nhưng lại tự nghĩ: “Mình đâu phải cục đất, cục đá, không có tình cảm - nhưng không biết tại sao mình thấy nói chi cũng có vẻ xã giao quá, không thực!”.

Hôm nọ, ông lâm bệnh, bà hốt thuốc, sắc cho ông uống. Khi uống cạn chén thuốc thấy lộ ra lá bùa, ông hỏi:

- Cái chi trong đáy chén dzậy bà?

Bà lật đật nói “có chi đâu, có chi đâu” rồi tìm cách giấu đi. Ông nói:

- Tui biết rồi! Nếu cần, bà hãy cho mời tất cả các ông thầy bùa lại đây, ngồi xung quanh tui đây, cứ cùng tha hồ mà ếm bùa tui một lượt thử coi! Một lần cho dứt khoát! Chớ đừng hôm nay ông thầy nầy, hôm mai ông thầy khác, vừa mất thì giờ vừa hao tốn bạc tiền vô ích!

Sau này, vô tình ông mới biết rõ, lá bùa hôm ấy chính là lá “bùa yêu” - bà muốn ông trở lại cùng yêu thương chăn gối với bà!

Bữa nọ, công việc ở sở bề bộn, ông về nhà đã khuya, ngó bộ không lên cốc được, đành nói với bà:

- Đêm nay, tui xin được ngủ nhờ ở nhà một đêm nghe, bà nó nghe!

Bà nghe vậy, mừng quýnh, tưởng là lá “bùa yêu” đã phát huy tác dụng - nên hăm hở quét dọn, sửa sang giường, mùng, nệm đâu ra đó, sạch sẽ, thơm phức. Biết vậy, ông vẫn làm thinh. Đến giờ, ông đem chiếu trải vào một góc lầu, giăng chiếc mùng nhỏ, ngồi thiền. Đến nửa đêm, nghe động, ông thấy bà chui vào mùng. Ông giật mình, vì ngay lúc ấy, do tâm thiền, ông thấy người bà đỏ rực và ngọn lửa ấy sắp táp vào ông.

Ông bình tĩnh bảo:

- Hãy đem ngọn lửa ấy đi ra ngoài đi bà nó ơi! Tôi van xin bà đó!

Bà đi ra, tủi hổ, khóc tấm tức... Và ông cũng không vào định nữa, ông ngồi quán tưởng - quán tưởng cái ngọn lửa ái dục thiên thu ấy nó đốt cháy thế gian không bao giờ ngưng nghỉ, không bao giờ dập tắt được. Ông phải dập tắt nó!

Bữa kia, bà nhạc tới thăm, thấy con gái tiều tụy, gầy mòn - biết rõ cớ sự, bà ân cần nói:

- Thôi con! Về ở với má đi con! Có mấy mẹ con mà ở chi căn phố lầu rộng rinh như dzậy nè! Về ở với má! Căn lầu trên, chồng con và mấy đứa, ở đủ rồi! Còn căn lầu dưới này hãy cho thuê, có thêm được một khoản tiền hằng tháng...

Ông phụ họa theo:

- Má nói phải lắm đó! Nghe lời má đi! Tiền thuê nhà được bao nhiêu bà hãy cất mà chi dùng...

Ông nói chưa dứt câu thì bất đồ, đã thấy tối tăm mặt mũi, hằng trăm ngôi sao nhảy múa trước mắt. Hóa ra, bà đã lẻn ra sau lưng, đánh ông một bạt tai tóe lửa. Thấy đứa con  nhỏ ở gần bên khóc ré lên, ông cúi xuống ẵm bồng lên tay, à ơi dỗ nín rồi nói với con rằng:

- Má con dại, lỡ tay đó thôi chứ không có ác ý chi đâu con!

Bà chưa đã giận, xỉa xói ông:

- Tui biết mà! Tui biết ông muốn đuổi tui ra khỏi nhà cho rảnh, cho khuất mắt! Tại sao dzậy? Tại sao cưới tui rồi bây giờ lại muốn đuổi tui dzậy chớ?

Bà nhạc nhìn con gái, dằn từng tiếng một:

- Dữ! Dữ quá! Hung dữ quá! Thiệt không ai còn chịu nổi! Cả gan dám đánh chồng! Mà chồng cô là ai chớ? Hiền khô á! Là ông Phật thiệt đó! Dám đánh cả ông Phật! Thôi! Từ nay về sau, tui không còn dám bước vào nhà “có cái con quỷ cái dữ dằn” này nữa!

Nói xong, hầm hầm, bà nhạc cắp nón ra về tức khắc!

Sáng ngày, bà biết lỗi, đến xin sám hối với ông. Ông vui mừng lắm, dịu dàng nói với bà:

- Biết lỗi là quý lắm! Tui không để bụng đâu! Người xưa nói, nhi nữ thường tình mà! Người nữ cái tình nó nặng lắm. Tui thông cảm với bà - nhưng từ nay, bà cũng phải thông cảm cho tui mới được chớ! Rồi bên nào cũng yên cả, cũng đẹp cả! Khỏi phải xin lỗi tui. Xin lỗi là phải đi lạy má mà xin lỗi kìa! Bà thường giận hung và giận lâu lắm đó!

Bà nghe lời, cắp nón ra đi, còn nói:

- Kẻo má nhiếc tui là con quỷ cái!

Ông bấm bụng, không dám cười, sợ bả giận thì nguy to!

Chuyện thì có vẻ qua qua đi, nhưng ông biết, chưa thật sự yên được với bà đâu! Chuyện đời mà!

Lại kiếm tìm nữa!

Thời gian sau, có người bạn đạo mách bảo là có vị sư cả chùa Tamdette nổi danh dạy thiền định, khuyên ông tìm tới học thử, nếu không hay thì về, chẳng trở ngại gì cả. Ông chần chừ, lần lữa do đã vấp váp những kinh nghiệm thuở trước. Sau, vì bạn nói quá, lại thấy có được mấy ngày nghỉ thưởng - ông cũng muốn đi cho vui!

Vị sư cả sau khi nói sơ về các đề mục thiền định, dạy ông nên chọn đề mục “nước”. Ông nghe lời, rút vào cốc vắng do chùa chỉ định, đặt bát nước trước mặt, chăm chú nhìn. Chỉ một lát thôi, ông đã bỏ bát nước bên ngoài, chú mục vào bát nước trong tâm. Cũng thoáng lát thôi, bát nước hiện ra rõ ràng, trong xanh màu lục bảo. Chưa dừng lại, bát nước ấy còn lớn nhỏ tùy ý, càng lúc càng sáng hơn, trong hơn. Những giờ thiền định sau, ông không cần bát nước nữa, hễ chú tâm, chú tưởng, bát nước liền hiện ra; rồi từ cái quang sáng như ngọc ấy, nắm tướng bất động, ông đi vào định hai tiếng, ba tiếng...

Giờ trình pháp, cứ sao ông nói vậy. Vị sư cả nhìn ông một hồi rồi thốt lên:

- Lạ quá! Lạ quá! Có người cả 5 năm, 7 năm chưa được dzậy! Còn ông thì sao nào, chưa được một đêm, một ngày đã mấp mé cái định sơ thiền!

Vị sư cả bảo ông thử đi vào đề mục “đất”. Và chỉ một đêm, ông trình pháp - là định sơ thiền lâu hơn một chút.

Vị sư cả bảo ông thử trú đề mục “tử thi”. Cũng vậy, chỉ một đêm - định sơ thiền sâu hơn một chút nữa.

Sớm hôm kia, vị sư cả nói:

- Ông đã từng quen định mà là định sâu là khác nữa. Định sâu thì tưởng mạnh! Bây giờ như thế này, trên cõi trời Đao Lợi hiện có thờ xá-lợi tóc và xá-lợi răng của đức Thế Tôn. Vậy ông thử dùng tưởng định lên trên đó, xem thử hai loại xá-lợi ấy được chư thiên thờ tự như thế nào?

Nghe lời, hôm ấy, ông dùng tưởng định xem thử. Một lát, tầng trời Đao Lợi hiện ra, xung quanh là những đám mây nhiều màu rất đẹp. Rồi hai bảo tháp cũng hiện ra, thật là cực kỳ, không thể diễn tả được. Rồi ông thấy rõ xá-lợi tóc, xá-lợi răng đều nằm trong cái hộp bảy báu, lấp lánh, chói sáng ngời ngời!

Xả thiền, ông kể lại cho vị sư cả nghe.

- Tôi hoan hỷ cả từng kẽ tóc, từng lỗ chân lông. Thật vĩ đại thay là tưởng định của người cư sĩ.

Kế tiếp, vị sư cả nói ông cũng nên dùng tưởng định đi xuống xem vài tầng địa ngục thử coi.

Lần này ông từ chối, nói rằng:

- Nếu kể về định thì con đã từng đi vào định sâu hơn dzậy -hơn cả nước, tử thi và đất mấy ngày hôm nay; không chỉ hai ba tiếng mà thường là suốt đêm. Con còn cả đề mục ánh sáng và định tâm từ nữa, cũng đã quen. Hôm qua sư bảo con lên cõi trời, con đã lên coi. Hôm nay sư bảo con đi thử địa ngục, con không đi xuống dưới đó nữa đâu!

- Tại sao dzậy?

Ông giải thích:

- Đi tìm chân lý, giác ngộ, giải thoát không phải như dzậy. Dù có định thâm sâu, dẫu có đi lên, đi xuống thiên đường, địa ngục một cách tự tại vô ngại - nhưng mà tham sân si, phiền não vẫn cứ còn nguyên ở đó - thì có ích chi? Phải có cách tu gì khác kìa - mọi phương pháp ở đây, con biết, đều không trúng cách!

Vị sư cả chịu, vì chính ông cũng chưa tu quán, tu tuệ - chỉ có sở đắc chút chút về định thôi - mà ngó bộ còn thua cả người học trò mới học có mấy ngày!

Phanh lần ra con đường!

Từ đấy, ông trở về cốc cũ tại chùa Mahāmontrey. Ngoài thì giờ tu thiền định như lệ thường, ông để tâm tìm hiểu tu cách chi cho diệt hết các khổ, những phiền não ngủ ngầm trong tâm. Hôm kia, vớ được quyển kinh Kim Cang Bát Nhã, đọc thử, thấy hay - vì ở đây có nói đến tánh không rốt ráo, giải thoát rốt ráo! Nhưng mà chỉ có nói mà thôi, nói gỡ tất cả mọi danh từ chữ nghĩa, gỡ tất cả mọi dính mắc, mọi thấy biết, mọi kiến chấp! Tuyệt! Nhưng thử đọc đi đọc lại xem có chỗ nào chỉ dạy cách tu, phương pháp tu từ cạn vào sâu, từ thấp lên cao như thế nào? Không thấy!

Ông tự nghĩ:

- Nói cho hay mà mần chi? Có người nói hay lắm nhưng ngũ giới cũng không giữ được, ích chi!

Rồi ông bỏ, không xem nữa.

Đêm kia, trước giờ hành thiền, niệm Phật xong - Buddho! Buddho! chừng mươi phút, ông chấp tay lên trán, nguyện rằng: “Nếu con không có duyên với Phật Pháp thì hãy để con chết quách cho xong; bằng có duyên tu hành từ kiếp trước, hãy cho con gặp được chánh pháp, có lộ trình tu tập đàng hoàng, có bản đồ chỉ đường không có sai lạc - trước để diệt tham sân si trăm mối khổ cho mình, sau nữa để giúp mọi người cùng tu theo, cùng thoát khổ theo!” Nguyện xong thấy lặng ngắt, trong ngoài đều lặng lẽ; và hốt nhiên, kỳ diệu thay, trong đầu thoáng hiện ra ba chữ Bát Chánh Đạo! Bàng hoàng quá mà cũng vui mừng quá, ngồi xếp bằng trở lại, ông suy nghĩ, suy nghĩ...! Chẳng biết cái chi cả! Thế ra chỉ nhớ có cái tên, còn ý nghĩa của ba chữ đó nó như thế nào thì ông hoàn toàn mù tịt! Tuy nhiên, lạ lùng làm sao, chỉ nhớ được cái tên ấy thôi mà sao cả người đều thơ thới, mát mẻ và an vui - như có làn gió thanh lương rười rượi thổi khắp cả lục phủ ngũ tạng! Ông quyết chắc rằng: “Đây đúng là chơn lý như thật rồi! Chư thần linh linh thiêng, do thấy mình có lòng thành, đã mách bảo cho mình đây! Bây giờ, hãy từ ba chữ này mà phanh lần ra, không trật đi đâu được!”

Trời rạng đông, thức dậy rửa mặt, mặc y phục, không kịp ăn điểm tâm sáng - ông tìm đến gặp đại đức trụ trì chùa Phó Vua Sãi - vị này là hiệu trưởng trường Cao đẳng học đường Pāḷi. Tại thất riêng, ông quỳ bạch, trình bày lý do đột ngột đến thăm, chỉ cần xin hỏi ý nghĩa đầy đủ, rõ ràng về Bát Chánh Đạo.

Vị đại đức chăm chăm nhìn ông, một lát rồi dồn dập những câu hỏi:

- Ông là ai? Ở đâu? Có phải là cư sĩ Phật tử không? Đã tu chưa? Tu bao lâu? Tu với ai? Pháp môn nào? Đề mục gì? Lý do tại làm sao mà chỉ hỏi có mỗi một Bát Chánh Đạo thôi?!

Ông xin lỗi. Rồi sau đó ông tuần tự kể lại lai lịch xuất thân, sinh quán, sở học, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, sự thao thức, trăn trở con đường tu tập; và đã từng tu tập như thế nào... mỗi mỗi đều được kể lại, tuy tóm tắt nhưng khá đầy đủ cho vị đại đức nghe!

Vị đại đức thốt lên:

- Hiếm có, hiếm có! Và cũng thật là kỳ lạ và phi thường! Có lẽ ông là người đầu tiên mà tôi gặp được ở trong đời, lại có lộ trình tu tập gian lao, đã dày công, đã tự lần dò khổ ải đến như dzậy!

Nghỉ một lát, vị đại đức tiếp:

- Tất cả mọi Định ấy đều không sai, chỉ là nó còn thiếu. Định, phải có Tuệ mới thoát tất cả khổ được! Ông có duyên lành với Phật Pháp. Và đúng, chư Phật xưa cũng nhờ tìm ra Bát Chánh Đạo mới diệt tận vô minh, phiền não được đó!

- Dzậy xin đại đức từ bi giảng giải cặn kẽ cho con nghe về Bát Chánh Đạo!

- Ờ, tôi giảng cũng được, nhưng thì giờ tôi không có nhiều. Tôi lại sắp lên trường. Ông là người có trình độ - vậy tiện cho việc nghiên cứu sâu rộng, tôi giới thiệu ông đến Pháp Bảo Viện của đức vua - ở đấy là cả một thư viện Phật học!

- Tiếng Miên con nói được nhưng chữ Miên thì con không đọc được!

- Không sao - vị sư cười xòa - Kinh sách chữ Miên, chữ Hán, chữ Pháp gì ở đó cũng có cả! Chữ Pháp thì người Tây đã dịch được một số kinh sách từ tạng Pāḷi. Ông có Diplôme tiếng Pháp, trình độ ấy thì có thể đọc tất cả mọi loại kinh sách tiếng Pháp. Tôi nhớ không lầm thì ở đó có một quyển sách nhỏ nói về Tứ Diệu Đế, bản Pháp ngữ, người ta đã soạn dịch khá chuẩn xác. Bát Chánh Đạo nó nằm nơi chỗ Đạo Đế!

- Chắc chắn có một số thuật ngữ Phật học, con sẽ va vấp, không nắm được, không hiểu được.

- Không sao, ông cứ ghi lên giấy, hôm nào có dịp, tôi sẽ giải thích cho! Ồ không, ông là bậc trí thức lại tu tập tốt quá - dzậy phải nói là chúng ta sẽ đàm đạo!

- Dạ, đàm đạo thì con không dám!

Trước khi ra về, vị đại đức khuyên:

- Hãy học thêm tiếng Miên, tiếng Pāḷi để tiện cho việc đi sâu vào giáo điển. Sau này, ông bạn sẽ hữu ích cho rất nhiều người, biết đâu ông sẽ truyền bá được giáo pháp chân truyền sang đất nước Việt Nam! Phải không?

Cúi đầu, đảnh lễ, ông cảm ơn rối rít - có cảm giác như gặp được một người bạn đạo đã lâu xa đâu từ kiếp trước!

Không chần chờ phút giây nào, ông tìm đến Pháp Bảo Viện. Ông trình bày ước nguyện với vị quản thủ thư viện - rồi vị này vui vẻ tìm kiếm quyển Tứ Diệu Đế cho ông. Hóa ra chỉ là một tập sách nhỏ, bản Pháp ngữ. Thế rồi, ông ngồi đọc, đọc suốt cho đến 14 giờ rưỡi chiều, quên cả ăn, cả uống. Nhắm mắt lại, hồi tưởng những ý nghĩa bên trong, rồi dường như thỏa thích, hỷ lạc - quên cả thời gian. Tỉnh lại, ông đọc nữa, đọc cho đến tối, và cũng có cảm giác hỷ lạc như thế.

Quyển sách đã đọc xong, nhưng ông còn muốn đọc đi đọc lại nhiều lần nữa - nên ký mượn, mang về. Từ đó, quyển Tứ Diệu Đế là sách gối đầu giường, đi đâu ông cũng mang theo, giữ gìn rất trân quý! Tuy nhiên, có nhiều điều ông chưa hiểu. Có một số thuật ngữ vẫn chưa nuốt trôi. Biết hỏi ai? Sư cả chùa Mahāmontrey thì ngài đã nói là ngài không có bao lăm chữ nghĩa. Lên chùa Phó Vua Sãi mấy lần đều không gặp vị đại đức kia. Tối về hành thiền, ông cứ lấn cấn không biết niệm gì trong Chánh niệm, Chánh định? Rồi suốt mấy ngày, ông đi lang thang thăm hỏi các ngôi chùa lớn mong gặp các vị A-xà-lê uyên thâm Phật Pháp sẽ giảng giải thắc mắc cho ông. Riết rồi cũng gặp được một vị khách tăng ngay tại chùa của sư cả. Biết ông là người hiếu học, vị sư lắng nghe rất chăm chú.

Sau khi kể lại lịch trình tu tập của mình, rồi kể lại câu chuyện Bát Chánh Đạo cho vị sư nghe - mong muốn những học hỏi về giáo pháp để tu tập cho đúng đắn. Ngài đại đức này còn trẻ nhưng đã học thuộc nằm lòng một tạng kinh - nên đã vừa đọc, vừa giảng - rồi còn cẩn thận bảo ông ghi chép cho thật đầy đủ những đoạn kinh nói về niệm hơi thở.

Xong, vị sư ấy kết luận:

- Niệm cũng đó, định cũng đó mà tuệ cũng đó. Niệm hơi thở, chú mục vào hơi thở, an trú vào hơi thở - nếu hơi thở nhẹ nhàng, lắng dứt, nhất điểm, sáng trong thì ông sẽ đi vào định. Cũng như dzậy, an trú vào hơi thở mà quan sát, lắng nghe những tác động nơi sắc thân, nơi cảm giác, nơi trí giác, nơi tâm hành, nơi ý thức sẽ phát sanh tuệ. Chỉ phát sanh tuệ khi thấy rõ được vô thường, khổ và vô ngã của pháp. Hãy nhớ rõ như dzậy!

Nghe xong, ông rùng mình, có cảm giác rất thân quen lời dạy này. Dẫu chưa hiểu sâu nhưng ông cũng mang máng hiểu; và ông biết, ông sẽ thực hành được.

Tối đó, về lại cốc, ông tự tin đi vào niệm hơi thở. Từ 7 giờ tối đến 12 giờ khuya mà ông thấy sao mau quá. Xả thiền, đi tiểu, ông chợt nghe tiếng rên từ cốc của ông thân sinh. Bước qua thăm hỏi. Ông thân đáp:

- Ba đau bụng kiết! Thuốc ống có sẵn, ba để trong tủ (ông chỉ chỗ) con về lấy tiêm cho ba!

Ông liền vào chùa lấy xe máy chạy về nhà, trên xe, ông cũng chú tâm vào đề mục hơi thở. Vì quá chú tâm vào hơi thở - nên khi qua đường rầy xe lửa, xe bị trượt, ông bị văng ra khỏi xe một khoảng khá xa mà chẳng thấy có cảm giác gì! Đứng dậy, phủi sơ sơ trên người, lên xe, đi tiếp. Vào nhà, lấy thuốc xong, về chùa tiêm thuốc cho ông thân. Xong xuôi, ông trở lại cốc, ngồi thiền cho đến sáng!

Trời rạng, chừng hơn 5 giờ, xả thiền - ông thấy hai ống quyển hơi đau, cúi xuống xem thì thấy hai ống quần máu thấm đỏ lòm, vải dính vào da. Hóa ra ông bị thương, xương chưa dập, chưa gãy nhưng đau rát lắm. Có cái gì lóe sáng, ông bình tĩnh cứ để yên vậy, tự nghĩ: “Đau chỉ là đau thôi, chẳng ai thọ đau ở đó cả! Tuyệt! Ta đã thấy bóng dáng của vô ngã rồi! Theo đó, cái đau kia cũng theo định luật vô thường cả thôi! Ôi! Cái thân đau, kệ nó chớ - làm sao nó có khả năng làm tâm ta khổ theo được!” Ông tủm tỉm cười, cảm thấy hạnh phúc quá! Cái hạnh phúc này quả là kỳ diệu! Đau mà bảo là hạnh phúc thì ai tin?

Hân hoan, thư thái - ông nhờ người chở đến bệnh viện băng bó vết thương - thấy nhẹ nhàng như không có chuyện gì xẩy ra. Rồi cứ thế, bắt đầu từ hôm đó, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, đi đứng nằm ngồi gì, trên xe máy hoặc tại công sở - ông cũng niệm hơi thở, không lơ là, không dứt đoạn;  chẳng có phiền não, tham sân gì gì len vào tâm ông được. Cũng nhờ vậy mà thân khẩu ý của ông đều thanh tịnh, không lầm lỗi. Cũng nhờ vậy mà tâm ông lắng trong, trí ông sáng suốt. Từ Chánh niệm, Chánh định ông hiểu thêm về Chánh kiến, Chánh tư duy; còn Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng thì dễ hiểu rồi! Và cũng từ đây, do chăm chăm chú chú ở nơi tâm, ông không còn nói chuyện chi với ai được nữa!

Miệng lưỡi thế gian

Thế rồi, bất cứ lúc nào ông cũng nhiếp tâm vào đề mục hơi thở. Nhiều người quen biết, gặp ông ở chỗ này chỗ kia, đôi khi dở nón chào, đôi khi đưa tay vẫy, đôi khi mở miệng cười, đôi khi mấy lời chào hỏi... nhưng thấy ông dường như không hay, không biết gì cả, họ rất khó chịu, bực mình. Một số người thân quen, cảm thấy bất bình vì ông “bất cận nhân tình”, chẳng lịch sự một chút nào cả. Họ phản ảnh với bà, với mẹ cô Diệu:

- Bà ơi! Mấy lần chào hỏi ông nhà bác sĩ, ông chẳng ừ hử, ì à gì hết, cư dông xe đi tuốt! Tâm ông cứ để đâu đâu, coi chừng có ngày bị xe cán, coi tuồng như ông đang dở tỉnh, dở điên đó!

Về nhà chưa kịp thay áo quần, bà đã nói:

- Nè! Người ta nói ông điên đó!

Ông cười cười:

- Ai nói?

- Mấy người quen gặp ông giữa đường đó!

- Thì ít ra bà cũng cho tui biết đầu đuôi họ nói tui ra làm sao đã chớ?

- Họ nói, ông ra đường mà cái bản mặt cứ “gầm gầm”. Ai chào, ai hỏi chi ông cũng chẳng ừ hử!

- Dzậy đó ha - ông mỉm cười - Ai đi giữa đường mà không nói chi cả, đều là người điên hay sao? Họ chào hỏi nhưng tui không thấy, không biết - thì làm sao tui trả lời? Trách tui sao được!

- Tu, mà cứ hằm hằm mà tu - cũng là điên đó!

Ông trầm tĩnh, chậm rãi giải thích:

- Lẽ thường, người điên có những triệu chứng như nói lầm bầm trong miệng, nói bá vơ, cười khóc thất thường - còn tôi đi ngay, đứng thẳng, không xẹo, không xiên, tâm ý chính đính, không dòm ngó ai - dzậy mà bảo tui điên thì thế gian này điên đảo thiệt rồi!

Bà liếc xéo, ngún nguẩy:

- Tui không lý sự với ông! Người ta bảo ông điên thì tui chỉ nói lại, ông điên mà thôi!

Chuyện cũng qua, nhưng ông tự nhiên thấy thấm thía bài học, tự nghĩ thầm: “Cuộc đời này ta cảm giác bắt đầu khó sống rồi! Thật là miệng lưỡi thế gian. Với những người xung quanh ta mà như dzậy đó, thì ta biết nói chuyện chi? Mà không giống họ, ta tỉnh hơn họ thì họ bảo ta điên! Ối, trời đất!”

Có một buổi tối, mấy bà bạn của bà đến thăm. Thấy bà buồn rầu, than thở ỉ ôi - họ khuyên bà trang điểm cho đẹp, mặc áo quần cho gợi cảm, xức nước hoa cho thơm tho vào - rồi lên tận cốc, phải nói những lời thiết tha, để quyến dụ ông nối lại tình xưa nghĩa cũ!

Bà thiệt thà nói:

- Tui biết nói lời chi?

Các bà xôn xao:

- Lời ong, lời bướm đó...

- Lời thuở trước trong phòng the đó, để ổng nhớ lại...

Lâu lắm, bà thở ra:

- Ổng đàng hoàng lắm, lúc nào cũng nghiêm nghiêm cẩn cẩn - nói ba cái lời khó nghe đó, ngó bộ ổng càng ghét...

- Không thể đâu, không thể như dzậy đâu! Cái giống“Đàn ông đàn ang” thì thường “một giuộc” như nhau cả thôi! Ông nào mà không muốn nghe lời thủ thỉ thù thì mê ly bên gối...! Chính bà đã không biết nói lời dụ dỗ phong tình nên mất ổng đó...

Họ xúm vào nói một hồi bà nghe cũng xuôi tai, rồi họ còn cẩn thận dặn lui, dặn tới là phải nói những câu như thế nầy, như thế kia nữa...

Bà gật đầu, nghe theo.

Đêm đó, đã khuya, nơi cái thất yên tĩnh tại vườn chùa, đang quán niệm hơi thở, ông nghe có tiếng động nhẹ.

- Ai đó?

Hỏi hai ba tiếng vẫn không nghe trả lời. Lát sau, bà cất giọng nhỏ nhẹ, dịu dàng, tha thiết:

- Tui đây ông ơi! Thương nhớ ông quá, tui lên thăm ông đây! Tội nghiệp tui mà!

- “Chà! Ông nghĩ, khó lòng rồi đây!”

Bà tiếp tục thỏ thẻ:

- Tui “cắn cỏ ngậm vành” lạy ông! Đêm khuya canh vắng, vò võ một mình! Hãy thương tui đơn chiếc! Nhớ ông quá mà! Nhớ vòng tay cứng cáp của ông! Nhớ hơi thở của ông! Nhớ mùi mồ hôi của ông! “Cây mà không liền cành, chim mà không liền cánh” thì tui thà chết đi, chứ đời tui không thể thiếu ông được, ông ơi! Tui chết mất!

Trong liêu cốc, ông cũng la thầm trong bụng: “Chết rồi! Kiểu này, tình cảm mà sít-sìn-sịt như dzậy thì không còn nói chuyện phải trái chi được nữa cả! Muốn bảo vệ sự an toàn, ba mươi sáu chước,“tẩu vi thượng sách! [5]Thế rồi, ông vội mở nhanh cánh cửa, phóng tuốt đến chùa, bất kể gai góc, lùm bụi; gõ dồn dập liêu thất của sư cả, xin được vào “tỵ nạn”.

Vị sư cả hỏi tự sự đầu đuôi. Khi rõ chuyện, ông sư già cười ha hả:

- Hiếm có! Hiếm có! Tu như dzậy mà không đắc đạo thì thế gian này, ai đắc đạo? Cứ ở đó, để tôi đi khuyên bảo cho! Ông có giác ngộ, giải thoát mới cứu độ bà nhà được chớ? Vô lẽ cứ rủ rê nhau chui mãi vào trong cái vòng lưới ái ân duyên nghiệt ấy? Sáu đứa con rồi mà chưa biết đủ sao?

Vị sư cả cầm đèn đi một lúc, trở về, bảo là bà chắc đã về nhà rồi, không thấy ở đó! Chợt dưng, bây giờ tỉnh táo lại, ông nghĩ đến một chuyện: “Lạ! Suốt đời, bà không bao giờ nói những lời bậy bạ đó! Khi bà giận thì bà nói cộc lốc, một cục, một hòn kia; không thế thì bà im lặng, im lặng hoặc “chưởi chó mắng mèo”, hoặc “quăng thúng đụng nia” kìa! Nếu không tại mình cắt gánh “nửa chừng xuân” thì bà thuộc loại đoan trang, hiền thục! Dzậy, đích thị là bà bị ma vương mớm ý, mớm lời để dụ dỗ ta thật sự rồi!”

Ông liền kể lại điều ông vừa nghĩ trong bụng cho sư cả nghe. Ngài sư cả gật gù:

- Có thế chớ! Dẫu sao, tôi thấy bà nhà cũng thuộc loại đoan chính đó! Chắc là ma vương thật sự rồi! Đức Phật mà nó cũng còn cả gan dụ dỗ nữa, huống hồ là ông! Dzậy thì hãy tinh tấn mà viễn ly thêm nữa! Gia đình là cái ổ phiền não muôn đời mà!

Ông lạy tạ và cảm ơn sư cả đã có lời động viên, sách tấn; sau đó, trở về cốc, không nghĩ gì nữa, hành thiền tiếp!

Tiếp tục trau dồi công hạnh!

Lên rừng tu!

Đúng chánh pháp rồi!

Thời gian sau, do như cầu công việc, ông thường đi công cán các quận huyện. Hôm kia, tại một thị trấn miền núi, nhìn núi rừng xanh mát, tĩnh lặng, êm đềm, lòng ông mềm lại, ước ao có được tháng ngày thảnh thơi, rỗi việc để vào các khu rừng như thế này mà hành thiền thì hạnh phúc biết mấy! Không cưỡng được ước muốn của mình, ông viết đơn xin nghỉ phép 15 ngày, giao công việc cho hai người phụ tá sành sỏi, bảo lái xe chở ông về sở ngay. Ngồi trên xe, ông thầm van vái chư thiên, đại ý rằng: “Tui chỉ muốn tu thiền thôi chớ không có ý chi khác. Vậy xin chư thiên, các ngài hãy thương tui, hộ trì cho tui - để cho ông Chánh sở thú y chấp thuận đơn nghỉ phép 15 ngày của tui. Có được chút ít công phu, phước báu chi đó, tui kính cẩn hồi hướng đến cho các ngài hết!”

Vậy mà linh nghiệm thật. Vào đến sở, gặp ngài Chánh sở, đưa lá đơn ra, chưa kịp chào hỏi gì cả; ông ta liếc đọc sơ rồi ký thuận một cái rụp!

Mừng không kể xiết, về nhà, không báo với ai, ông “cụ bị” một ít áo quần, vài thứ vật dụng lặt vặt, nhờ lái xe chở trở lại khu rừng. Tại đây, tình cờ gặp một vị đại đức, dường như đang chờ xe quá giang. Ông dừng lại thăm hỏi và nói ước nguyện của mình muốn lên một khu rừng yên tĩnh để hành thiền.

- Vậy là hay quá rồi! Chùa tôi ở trên một huyện miền núi, khá xa ở đây, đi sâu vào trong là một khu rừng nguyên sinh hùng vĩ và xanh đẹp. Tôi sẵn sàng làm người hướng dẫn cho cư sĩ!

Ông cảm nghe mát mẻ trong ruột, tự nghĩ: “Quả thật duyên lành thì gặp duyên lành! Càng sống, càng chiêm nghiệm thì ta càng thâm tín ân đức Tam Bảo! Lá đơn nghỉ phép, ký ngay, không hỏi lý do! Xe dừng ở đây thì gặp vị đại đức sẵn sàng hướng dẫn lên núi! Thật là kỳ lạ! Ai dám bảo thời này không có điều huyền diệu?”

Khi ngồi trên xe, xe chạy suốt đêm; và cũng suốt đêm ông trú niệm hơi thở. Trời sáng bạch thì tới nơi. Cả hai cùng xuống xe. Vị đại đức nói:

- Vị quan phủ trị nhậm ở đây là người Miên. Ông ta rất mộ Phật. Tôi cũng có quen thân. Tới địa phương của người ta, dẫu là lên trên núi tu, cũng nên trình báo với ông một tiếng.

- Đúng dzậy - Ông gật đầu - Dzậy mới phải lẽ. Không nói chuyện lịch sự, mà đức Phật cũng có dạy là phải biết tuân thủ pháp luật ở địa phương mình cư trú.

Tới phủ đường, khách được dẫn vào gặp quan lớn. Cả hai được tiếp đón niềm nở. Không những được chấp thuận dễ dàng, mà quan phủ còn bảo, nếu cần ông sẽ cho lính hộ vệ lên tận núi để bảo đảm sự an toàn.

Ông có vẻ không hiểu cái câu “bảo vệ an toàn”! Vị đại đức phải giải thích:

- Vùng này nổi tiếng nhiều voi dữ, nhiều cọp beo - nên ngài quan phủ muốn bảo vệ chúng ta đó.

Hiểu thiện chí ấy, cả hai cảm ơn quan phủ, bảo là sợ phiền đến lính tráng. Họ tự đi được, có lẽ không đến nỗi nào.

Lát sau, vị đại đức dẫn ông đến nhà một cư sĩ quen thân, kiếm chút thức ăn lót dạ, thay đổi y phục nâu sồng có sẵn trong đãy mang theo. Một số đồ dùng lỉnh kỉnh không cần thiết như dù nón, mũ, giày gì cũng gởi lại nhà người cư sĩ; ông chỉ có một bộ mặc trên người, một bộ mang theo, không mũ nón rồi đi bằng chân không, lên đường. Vị đại đức đi trước.

Lần đầu tiên trong đời, ông cảm giác sao mà nhẹ nhàng, thơ thới đến vậy. Quả thật là đầu đội trời, chân đạp đất! Quả thật là không còn một dính mắc gì trên trần thế này nữa! Ôi! Nghe từng viên sỏi lạo xạo dưới chân cũng an lạc! Ôi! Nghe một tiếng chim kêu ở đâu đó cũng an lạc! Ôi! An lạc cả từng làn gió nhẹ thổi qua! An lạc cả từng bụi cỏ bên đường! An lạc cả từng giọt hôi lấm tấm trên trán, nơi lưng, nơi cổ! Rồi ông tự nghĩ: “Không biết bao giờ mình mới được rảnh rang vô sự, được tự do mà đi tìm chỗ hành đạo như thế nầy! Rồi có lúc sẽ được thôi! Thứ nhất là phải khởi quyết tâm liên tục, không gián đoạn. Thứ hai là phải tích cực sống hạnh viễn ly. Thứ ba là phải thu xếp ổn thỏa việc gia đình!” Đến ngang đây, ông tự xét, vì sung sướng quá nên tư tưởng ta đã nghĩ ngợi và đã chạy nhảy lung tung rồi. Và ông lại trú niệm, xế trưa thì đến tận chùa, khoảng xa chừng ba bốn cây số đường núi.

Vị đại đức là người trụ trì ở đây. Chư tăng ra chào hỏi. Ông được đãi đằng cơm nước rồi được cho ở nơi một cái cốc vắng, yên tĩnh, sạch sẽ sát vách đá.

Vị đại đức nói:

- Ông cư sĩ trí thức hãy nghỉ ngơi, tịnh dưỡng - đường xa chắc đã thấm mệt! Sáng mai, chúng ta sẽ đi lên núi, vào rừng!

- Thưa, còn khoảng bao xa?

- Chừng ba bốn cây số như dzậy nữa. Nơi ấy rất lý tưởng. Các vị trưởng lão, các bậc ẩn tu trước đây cũng thường chọn địa điểm đó. Hiện tại, vẫn còn dấu tích của các ngài nơi các hang đá.

- Chắc có nhiều vị đạt đạo, thưa đại đức?

- Cũng khó biết - Vị đại đức có vẻ thận trọng - Mà cũng có thể như dzậy! Nhưng các ngài thường lặng lẽ như đá, như cây; nếu có đến đi thì cũng nhẹ nhàng, khoảng khoát như như gió, như mây trời - họ có vướng bận chi đâu, và họ có nói với ai về sự chứng đắc của mình bao giờ? Tiết lộ “pháp thượng nhân” thuộc trọng giới “bất cộng trụ”, bị trục xuất khỏi Tăng đoàn đó!

Ông thắc mắc:

- “Pháp thượng nhân” là gì? “Bất cộng trụ” là gì mà ghê gớm dzậy?

- Pháp thượng nhân là các tầng thiền định, các thắng trí, các thần thông, phép lạ, các tầng thánh quả. Một vị tỳ-khưu trong giáo pháp Phật, nếu tiết lộ cho pháp hữu của mình nghe, bạn đạo của mình nghe, hoặc cho thiện nam tín nữ của mình hay biết rằng, là mình đã đắc cái gì đó, đã chứng cái gì đó - cho dẫu chỉ nói xa, nói gần - cũng bị đuổi khỏi Tăng đoàn, không cho sống chung với Tăng nữa - nên gọi là “bất cộng trụ”! Nhẹ tội hơn một chút thì cũng bị phạt cấm phòng nhiều tháng, sau đó có đầy đủ 21 vị tỳ-khưu mới sám hối được!

- Hay thay! Thiệt là bây giờ con mới biết! Mà nghiêm túc như dzậy mới tốt, không thể lơ là giới luật được! Có nhiều điều, quả thật con chưa biết, thưa đại đức!

Vị đại đức cười cười, thả giọng bí hiểm:

- Còn nhiều, còn nhiều cái mà ngài trí thức đây chưa hiểu, chưa biết nữa đó!

Vị đại đức xuống chùa rồi, ông tự gẫm: “Đây là lý do mà bao năm qua đi tìm chánh pháp mà ta cứ phanh ngoài nhánh, ngoài ngọn; cứ mãi gặp người ngoài biên, ngoài rìa! Các vị chân tu thật sự, họ ở đâu cũng chẳng ai biết ai hay! Dẫu ở nơi đô hội kinh kỳ, ở nơi non cao động vắng hoặc ở nơi phố chợ ồn ào... ta dễ gì mà biết đến họ? Vì họ thường im lặng như cái tịnh bình; họ không rao hàng, quảng cáo; họ không khoa trương, cổ vũ; họ không đao to búa lớn - nghĩa là không giương danh mình lên - thì ta làm sao biết chỗ mà kiếm, mà tìm? Hóa ra, có một đạo Phật chân chính, có những bậc tu hành chân chính - đã lặn sâu, đã chìm sâu như khối lượng đáy của các tảng băng nổi! Ôi! Cái đất Phật, đất Miên này, dưới lòng nó, còn có cả một đại dương - chỉ trách ta duyên lành chưa đầy đủ mà thôi!”

Đêm, do mỏi mệt, ông ngủ một giấc cho đẫy. Chừng hai giờ sáng, ông mới ngồi dậy hành thiền.

Trời vừa chớm bình minh, ông được chùa cho ăn sáng. Lát sau, vị đại đức dẫn đến cả một đoàn người. Đếm thử, có 4 vị sư, 14 cư sĩ, thêm vị đại đức và ông nữa là vừa chẵn 20! Trên người họ mang xách đầy đủ vật thực, mùng, chiếu - và riêng ông, đặc biệt có một “tấm đăng” mỗi bề chừng hai thước. Ông cảm động quá:

- Như dzậy thì con làm sao trả ân cho nổi?

Vị đại đức cười xòa, cất giọng bã lã:

- Ân với nghĩa gì! Thầy trò cùng nhau lên núi hành thiền, cùng nhau tu tập mà! Ở đây, lâu lâu, chúng tôi cũng thường làm dzậy, quen rồi! Đây, đúng như lời đức Phật dạy: “Hạnh phúc thay, tứ chúng đồng tu!” Có phải dzậy không, thưa ngài cư sĩ trí thức?

Ông cười, trong tâm cảm thấy rất kính trọng vị đại đức vô danh này:

- Con thiệt không còn dám nói thêm một lời nào! Đừng nhạo báng con là bậc trí thức nữa! Đại đức là cả một ngọn núi đó!

Sau đấy, cả đoàn người đồng lên đường. Càng đi thì càng cheo leo hiểm trở hơn - nhưng mà lại thâm u và tĩnh lặng hơn. Ông chợt nghĩ, người xưa nói, người có đức trí thì thích biển, người có đức nhân thì thích rừng. Ông chợt cười, câu đó chắc không đúng đâu, đức Phật của mình ở rừng không, mà vô lượng cái trí đức của Khổng Nho kia ngài cũng thành tựu, và còn hơn thế nữa! Còn tuệ vô ngã và giác ngộ giải thoát thì thế gian này, thì chỉ có một ngài! Mà thôi, không nghĩ bậy nữa.

Rừng nguyên sinh bắt đầu hiện ra sau chừng vài giờ đi bộ. Con đường mòn bắt đầu bỏ triền đất để men theo con suối đá. Nước trong vắt. Lát sau, một con thác bạc hiện ra sau lùm cây, tuôn chảy ầm ào.

Vị đại đức dừng chân, nói:

- Ai muốn tắm, cứ tắm. Tắm theo thời nguyên thủy cũng được. Chỗ này chỉ lác đác vài người đi tìm măng giang, nấm mèo, mật ong... mà thôi.

Ông nở nụ cười rạng rỡ, trông sung sướng như trẻ thơ:

- Giải thoát cả người, sướng quá thưa đại đức!

- Rừng không bon chen, không tranh giành, không hơn thua với ai điều chi cả.

- Dạ! Đúng dzậy! Lên đây, chẳng cần tu tập chi, cứ việc thở khí hậu trong lành và học vài đức tính của rừng cũng đã khỏi uổng phí một kiếp làm người!

Họ lại lên đường, men theo khoảng cách rộng rãi giữa các gốc cây đại thụ. Xế trưa thì tới nơi. Xung quanh có khá nhiều hang đá, có suối và có khá nhiều kỳ hoa dị thảo. Nắng ở trên cao dọi xuống các tán lá không đủ xua tan khí rừng mát lạnh.

Độ ngọ tạm thời bởi một số vật thực mang theo, sau đó, mỗi người tự tìm nơi vừa ý cho mình để tọa thiền.

Ông kiếm được một chiếc hang, có lùm cây thấp, có một tấm đá bằng có thể ngồi được. Ông vặt cây bên cạnh túm lại làm chổi, quét dọn xung quanh, có cảm giác như mình là một vị tỳ-khưu ở rừng như thuở đức Phật còn tại thế.

Trước khi vào thiền, ông niệm tưởng ân Tam Bảo, cầu xin chư thiên, thọ thần, sơn thần hoan hỷ hộ trì cho ông tu hành được tốt, không có trở ngại chi. Rồi ông khởi quyết tâm, trong thời gian vắng lặng ở ngôi rừng này, phải thấy cho bằng được giáo pháp nhiệm mầu! Ông trú vào hơi thở và quán sát 4 chỗ thân, thọ, tâm, pháp. Một lát lại bị trở ngại, do ruồi, muỗi và có cả con vắt. Ông kiên gan chịu đựng, lát rồi cũng yên.

Xả thiền thì trời đã chạng vạng. Ông ra suối vốc nước uống, tìm nơi góc vắng đi vệ sinh rồi trở lại chỗ cũ. Thấy mọi người đang cùng nhau treo mùng, cái nọ nối cái kia, thành một dãy dài dưới hàng cây cổ thụ. Ngạc nhiên ông hỏi một vị sư đứng cạnh:

- Mỗi người một nơi xa không tốt hơn sao?

- Ai cũng sợ voi và cọp. Nhất là cọp, ở đây cọp nhiều lắm!

Vị đại đức từ xa bước lại, giải thích:

- Kinh nghiệm cho thấy, mùng treo liền lạc như thế, đông người cùng tọa thiền yên tĩnh, cọp nó sẽ không đụng đến.

- Dzậy mùng đại đức treo ở đâu?

- Tôi chưa treo.

- Dzậy đại đức và con có dám treo mùng ở nơi xa nhau chăng?

- Cũng dám lắm! Thôi thì cứ thử một lần cho biết.

Thế rồi, ông và đại đức trụ trì đi tìm chỗ treo, mỗi người cách xa nhau và cũng cách xa đám đông.

Hóa ra, đêm đó do sợ cọp mà ông ngồi không yên. Một lát lại mở mắt nhìn ra bên ngoài, trăng sáng mờ mờ mà cứ tưởng ông cọp ngồi ở đâu đó. Không ngồi được thì ông nằm xuống nghỉ, muốn ngủ một giấc cũng không ngủ được. Cái sợ đã xâm nhập tâm trí, đã trở thành một ám ảnh. Khuya, mắc tiểu, ông cũng không dám ra ngoài. Lúc đã không còn nhịn nổi, ông bạo gan vén mùng và chỉ đi tiểu cách đó vài bước. Ngồi thiền trở lại, ông quyết trú vào hơi thở để đánh tan cái sợ nhưng thất bại. Đêm, vì thế, đã trôi qua rất chậm.

Sáng ngày, vị đại đức nói:

- Đêm qua, sợ cọp quá nên tôi hành không được.

- Con cũng dzậy! Không hành thiền được, không ngủ được nên mệt phờ cả người.

- Ông cư sĩ kiếm chỗ nào đó để ngủ một chút đi. Tôi cũng phải làm dzậy.

Buổi sáng trôi qua, nhờ có ngủ được chút ít nên ông thấy người khỏe lại. Buổi trưa, nhóm cư sĩ dâng vật thực cho ngài đại đức và 4 vị sư. Ông cũng có một phần, nhưng ông chỉ dùng một lửng cơm và nước tương (Hồi này ông còn ăn chay). Buổi chiều, ở trong mùng, lót tấm đăng, đậy đằn xung quanh để tránh ruồi, muỗi và vắt nên ông ngồi thiền khá tốt. Thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, trong sáng, có cái gì khởi lên là ông biết liền. Và thời gian trôi qua rất nhanh.

Mặt trời sắp lặn, khí núi mù mù, lành lạnh. Ông xả thiền, tìm uống nước, rửa mặt mũi, tay chân rồi đi kinh hành thư giãn cơ bắp. Ông tự hỏi, tự đáp:

“- Đêm nay mày có sợ cọp không?”

“- Chắc có sợ!”

“- Sợ nhiều hay sợ ít?”

“- Khi đó, gặp, biết liền!”

“- Dzậy, việc cương quyết phải thấy pháp thì sao?”

“- Sẽ cố gắng, cố gắng hết mình!”

“- Ừ, được, một chút giải đãi cũng không nên! Đời người ngắn lắm, mà sự rảnh rang như thế này cũng không có nhiều đâu!”

Rồi đêm đó cái sợ lại đến, tuy nó ít hơn. Ông quyết chống lại nó, bằng cách trực tiếp quán tưởng sự chết. Chết thì thôi! Chết khi đang hành đạo cũng lên được cõi trời kia mà! Thế là ông không sợ nữa nên hành thiền được cho đến sáng. Đêm nay, ông thành tựu thêm một bước nữa, là thấy được cái vô thường của từng tâm niệm, thoáng lát là nó mất ngay. Rồi cái vừa sinh, ông cũng thấy.

Nội tâm mát mẻ, hỷ lạc, phơi phới nơi khuôn mặt làm cho vị đại đức cũng nhìn thấy:

- Ông cư sĩ hành thiền tốt quá, cả cái hỷ lạc mà nó cũng tỏa ra bên ngoài.

- Cảm ơn đại đức! Quả thật đêm rồi con thấy khá tốt!

Ngày hôm sau, đêm hôm sau nữa, khi tọa thiền, ông không còn sợ hãi; nhờ vậy ông cảm giác tiến bộ được một bậc nữa. Tuy không biết đã tới đâu, nhưng rõ ràng ông đạt được sự tĩnh lặng thâm sâu, đồng thời tâm trí ông trong vắt, như một khối pha lê. Cảm giác không còn thấy, tri giác không còn thấy nhưng ông biết cái hạnh phúc kỳ lạ khi thân tâm trở thành một khối thuần nhất, không chia biệt. Gần sáng, trở lại cận hành, soi chiếu nội tâm, ông biết rõ các thiền chi là dzậy, ngũ uẩn vô ngã là dzậy, kiến, tư duy, niệm, định, hỷ xả là dzậy... Tất cả, ông đều tự biết, tự thấy theo với từng hơi thở khắng khít, miên mật... Xả thiền, ông hồi hướng phước báu cho chư thiên, thọ thần, sơn thần...

Ngày thứ tư, có vị xã trưởng đi lên với 4 người lính có súng ống. Ông xã trưởng nói lý do:

- Tôi ra phủ đường, ngài quan phủ có nói là ông cư sĩ người Việt và đại đức trụ trì lên núi tọa thiền có xin phép đàng hoàng; vậy cố mà bảo vệ cho người ta. Tôi đi kiểm tra xóm dưới chùa mới biết, còn có 4 vị sư và 14 cư sĩ cùng lên tu thiền rừng này mà không xin phép.

Vị đại đức nói:

- Hóa ra, lên núi hành đạo mà cũng bị cấm nữa sao, thưa ông xã trưởng?

- Dạ, con không dám! Con chỉ sợ trách nhiệm mà thôi! Xin đại đức thông cảm cho con!

Mấy cư sĩ người Miên thay nhau nói từng câu:

- Chúng tôi không về đâu, ông xã trưởng!

- Lâu lâu tranh thủ tập thiền ít ngày thôi mà, ông quan!

- Chúng tôi tu hành thuần túy, chẳng có hoạt động “chính chị, chính em,  quân sự, quân siết” chi ở đây cả. Hãy nhìn đi, ông quan xã!

Hóa ra họ cũng hiền, nói về không được thì thôi; ông xã trưởng lại còn nói trước khi từ giã:

- Quý sư và bà con để ý cọp beo, rắn rít! Tôi sợ ở đông, cọp đánh hơi nó tìm đến phiền phức mà thôi! Phiền, khổ cho tôi nữa đó!

Mọi người cười xòa. Bây giờ vị đại đức mới cười:

- Nói cho biết dzậy thôi! Chúng tôi sẽ tuân hành pháp luật! Lại nữa, 4 vị sư chùa của tôi và 14 vị cư sĩ này cũng đã hết lương thực, nên họ sẽ cùng về với ông xã trưởng ngay bây giờ đây!

Khi họ về hết, chừng trưa thì có ba cư sĩ người Miên, tay mang khí giới từ dưới xóm chùa lên. Họ mang thực phẩm dâng ngài đại đức và rồi ông cũng có một phần.

Buổi chiều, lúc tắm dưới suối lên, thấy ba cư sĩ người Miên đi kinh hành lui tới. Ông hỏi:

- Hóa ra các vị chưa về sao?

Một người đáp:

- Chúng tôi định mời ngài đại đức và ông cư sĩ cùng về!

- Tại sao?

- Chúng tôi sợ thú dữ. Nếu ở lại thì không có cái ăn, và sợ. Nếu về thì hôm sau chúng tôi cũng không dám lên, vì sợ. Nếu chúng tôi về mà không lên thì vô lẽ bỏ đói ông cư sĩ và đại đức của chúng tôi hay sao? Đằng nào cũng không ổn cả, nên thật khó xử!

Thấy họ khổ tâm vì mình, ông nói:

- Thì ngài đại đức hãy về, tui ở một mình được.

Vị đại đức trong mùng bước ra:

- Ông cư sĩ không về thì tôi cũng không về đâu.

Thấy họ có mang theo một bọc cốm dẹp; nên ông nói:

- Đại đức hãy về đi, còn số cốm dẹp kia, con có thể dùng một tuần được mà! Một tuần nữa, con sẽ về!

Vị đại đức vẫn khăng khăng:

- Tôi cũng không thể để ông cư sĩ một mình!

Vậy là chịu, vị đại đức và ông không về thì ba cư sĩ người Miên cũng không nỡ bỏ về.

Thấy trời sắp chiều tối, vị đại đức chợt đưa ý kiến:

- Cách chùa tôi áng chừng một cây số có một khu rừng đẹp,

yên tĩnh. Hay là ta về dưới đó. Hành thiền ở đó cũng tốt mà tiếp tế lương thực cũng tiện. Ông cư sĩ thấy như dzậy có được không?

Thấy ý kiến hay, tiện cả đôi bề. Ông tự vấn: “Khi lên núi, mình có nguyện là phải thấy giáo pháp nhiệm mầu mới về; nay bị trở ngại nửa chừng, nhưng dù sao mình cũng đã có thấy chút ít rồi. Mình tuy về sớm hơn dự định nhưng lời nguyện kia cũng không phá bỏ”.

Nghĩ vậy, ông đồng ý ra về.

Trời chưa tối, họ tới nơi khu rừng dự định.

Vị đại đức nói:

- Ông cư sĩ cứ giăng mùng hành thiền tại đây. Tối, tôi và 18 người kia sẽ trở lại - chúng tôi không thể bỏ cuộc giữa chừng được!

Và quả đúng như thế, chừng 7, 8 giờ tối - vị đại đức đã giữ đúng lời hứa, dẫn 4 vị sư và 14 cư sĩ kia trở lại. Ông thầm kính trọng cái quyết tâm của họ.

Đêm đó, họ giăng mùng kề cạnh nhau. Mù sương xuống  nhiều nên rất lạnh, càng về khuya thì khí lạnh càng tăng. Ông chỉ ngồi thiền được chút ít rồi run cầm cập. Có lẽ những người bạn bên kia cũng cùng chung cảnh ngộ như ông, chẳng ai hành thiền được cả. Trong mùng, ông lập cập, run run ngồi đánh bò cạp - thoáng nghe tiếng chân thú đi đạp cây khô kêu rôm rốp. Có lẽ là cọp thật rồi! Nhưng ông không sợ nữa, kệ nó. Có sợ thật à! Chỉ là cái sợ hay ai sợ? Có người sợ không? Không có! Còn lạnh? Cũng vậy. Ông nhìn ngắm cái lạnh, lạnh, lạnh; mày lạnh hay ai lạnh - hay chỉ là cái lạnh thôi? Lát sau, trở về với hơi thở trong lặng, liên tục - ông không còn biết sợ và biết lạnh là gì nữa.

Như thế là ông định thiền cho đến sáng, không dùng tuệ để quán sát như giấc canh ba đêm hôm qua.

Sáng ngày, vị đại đức hỏi chuyện:

- Đêm vừa rồi, ông cư sĩ có thấy cọp không?

- Có, có nghe nó đạp cây khô nghe rôm rốp; nhưng con đã quán sự sanh diệt, vô ngã của cái sợ - nên không có người sợ nữa. Thế là con hành thiền được tốt cho đến sáng.

- Tuyệt! Còn tôi thì tệ! Ai đời tôi thấy con cọp nó rình tôi từ ngoài mùng. Cái bóng nó to lừng lững! Tôi sợ quá! Gần sáng nó mới đi - nên tôi chỉ vừa chợp mắt được một lát, có thiền gì được đâu!

Sau đó, họ đàm đạo một lát. Vị sư nói:

- Cho tôi được thăm hỏi giáo pháp một chút, được chăng?

- Dạ, con cũng muốn học hỏi thêm.

- Không dám, tôi thấy ông cư sĩ đi vào định rất thâm sâu!

- Con không quyết chắc có thâm sâu được không, nhưng quả thật là con ngồi được, đôi khi cả đêm.

- Dzậy thì lúc ấy, hơi thở ông thế nào; rồi các hiện tượng Pīti, Sukha, Upācāra... đó nó như thế nào?

- Hơi thở, con nói được; các cảm giác hoặc vắng lặng các cảm giác thì con cũng nói được - nhưng con không biết nghĩa các chữ Phạn ấy.

Vị đại đức ngạc nhiên nhìn ông một hồi.

- Dzậy thì ông hãy kể tất thảy cái gì ông kinh nghiệm được trong lúc ông định thiền cho tôi nghe thử coi.

- Vâng!

Rồi ông kể. Kể tất cả, không bỏ sót một chi tiết nào, rất trung thực.

Vị đại đức gật gù, sau đó, phát biểu khá thận trọng:

- Tôi không phải thiền sư, nhưng tôi có hành thiền; và nhất là tôi đã đọc khá nhiều kinh sách về lãnh vực ấy. Tôi chỉ nói theo giáo điển, chứ không phải kinh nghiệm của tôi - là về thiền định, ông đã bắt đầu bước qua đệ tam thiền rồi đó! Ngưng một lát, vị đại đức tiếp - Ông còn Sukha, tức là an lạc, mà an lạc ấy càng ngày càng nhẹ, ấy là triệu chứng tốt. Đừng đắm vào đó thì ông còn đi sâu được nữa!

Ông hỏi:

- Bỏ cả lạc?

- Phải!

- Chỉ còn dòng tâm trôi chảy trong lặng?

- Giáo điển bảo là chỉ còn Upekkhā Ekaggatā!

Ông không hiểu. Vị đại đức lại giảng.

Ông mừng húm, nổi cả da gà:

- Thưa vâng, cảm ơn đại đức!

- Vậy, tuệ quán thì sao? Ý tôi muốn hỏi đến cách tu tập Vipassanā đó!

- Tiếng Phạn ấy con cũng không biết!

- Là cái cách dùng tuệ mà quán sát danh sắc, quán sát thân, thọ, tâm, pháp, ngũ uẩn, thập nhị nhân duyên dzậy mà!

- Cả cái gì danh sắc đó con cũng không biết, nhưng cảm giác và tư tưởng thì con có nhìn nó, nó sinh diệt rất nhanh...

Vị đại đức tấm tắc:

- Kỳ lạ! Kỳ lạ! Tu định nhưng không biết cả các thiền chi - thế mà lại đi sâu vào định được. Bây giờ, không biết Vipassanā, không biết cả danh sắc là gì - mà ông cư sĩ đã đi đúng là Vipassanā! Là quán danh sắc đó!

Ông mừng rỡ quá, quỳ sụp xuống lạy vị đại đức:

- Cảm ơn đại đức! Lời xác nhận vừa rồi của đại đức, đại đức có biết là con hạnh phúc biết chừng nào chăng?

Vị đại đức cảm động, trìu mến nắm tay ông kéo dậy:

- Tôi cũng dzậy! Tôi cũng hạnh phúc lắm! Ông cư sĩ là người Việt, lại tự lần dò con đường mà đi, lại đúng với chánh pháp! Đời này hiếm lắm, ông biết không! Gặp được một thiện trí thức, một bậc chân tu, không là hạnh phúc trên cuộc đời này hay sao?

Ông cảm động đến rơi nước mắt.

Đến ngang đây thì có một vị sư từ dưới chùa lên, thông báo với ngài đại đức - là có một thiền sư nổi danh, ghé ngang vùng nầy, nghe nói có một trí thức người Việt hành thiền trên núi, ngài muốn thăm hỏi một chút.

Vậy là sau đó mọi người cùng về chùa.

Trông vị thiền sư có hình dong khô gầy nhưng rắn rỏi, quắc thước, đôi mắt sáng quắc như hai ngọn đèn. Ông đoán chắc là thiền sư thứ thiệt. Ông đến đảnh lễ như cách đảnh lễ của người Miên.

Cuộc phỏng vấn bắt đầu.

- Lộ trình thiền tâm của ông thế nào, nói thử nghe coi, ông cận sự nam?

Ông lắc đầu, không hiểu.

- Vậy, khi ông vào định lâu - thì những cái như Vitakka, Vicāra, Pīti, Sukha, Ekaggatā như thế nào, ông cận sự nam thân mến?

Ông vẫn lắc đầu, không hiểu.

- Thế thì những cái gì ông quán mà ông gọi là Nāma; những cái gì ông quán mà ông gọi là Rūpa - nói thử nghe coi, này ông cận sự nam?

Ông cũng lắc đầu nữa. Vị thiền sư nói tiếng Miên, những câu hỏi lại chuyên môn quá, lại còn đệm i nữa thì ông làm sao hiểu được!

Vị đại đức đỡ lời cho ông:

- Ông cư sĩ đây không có thầy, lại chưa hề học của ai về thiền định hay thiền quán cả. Các thuật ngữ chuyên môn ông không biết. i lại càng không. Thế mà kỳ lạ làm sao, ông ta đã đi đúng đường. Và tuệ, định gì ông cũng vào sâu được cả, thưa ngài trưởng lão!

Nói thế rồi, vị đại đức nói chuyện với ngài thiền sư. Họ dùng tiếng Miên thì ít mà i lại nhiều hơn. Dường như vị đại đức đang cố gắng diễn tả lại những gì nghe được do ông đã kể lại. Vị thiền sư gật đầu liên tục. Họ nói chuyện khá lâu. Ông tự hổ thẹn cho bản thân khi nghe về giáo pháp mà mình không hiểu gì. Ông thầm nguyện rồi sẽ học, sẽ học, sẽ học.

Câu chuyện của họ đã chấm dứt. Vị thiền sư nói với ông, giọng điềm đạm, trân trọng:

- Ông có duyên thâm hậu với Phật Pháp. Là một nhân cách lớn, một cái tâm lớn, một cái trí lớn! Sau này, nếu ông chịu khó đi sâu thêm vào giáo điển, Tam Tạng Pāi, cả Tam Tạng Miên - thì ông có thể hoằng truyền giáo pháp về Việt Nam sẽ là rất tốt cho bao người ở đó!

Sung sướng quá, ông run cả người, nghẹn ngào không nói gì được cả.

Độ ngọ xong, vị thiền sư từ giã, ân cần nói với ông:

- Không thể tu hành lang thang mãi như thế được. Lúc nào trở lại Nam Vang, tìm gặp tôi - tôi sẽ giới thiệu cho những bậc chân tu, uyên thâm cả Ba Tạng, tha hồ mà học...

Nói thế xong, trao cho địa chỉ rồi ngài cười hiền lành:

- Hồi sáng, tôi xin lỗi đã hỏi khó mấy câu làm ông cận sự nam lúng túng. Quả thật, ông tu được như dzậy mà một vài chữ ngoài da về giáo pháp cũng không hiểu! Thiệt là lạ đời!

Vị đại đức chêm một câu:

- Ổng ta đã tu từ nhiều kiếp về trước rồi mà, thưa thiền sư!

- Có lẽ đúng là dzậy!

Không có hạnh phúc nào to lớn, tối thượng hơn là hạnh phúc gặp được chánh pháp; tu tập, hành trì đúng chánh pháp - nên tối hôm đó ông phỉ lạc trọn đêm, người nhẹ nhàng không trọng lượng như trôi bồng bềnh, thơ thới giữa ngàn mây.

Mấy ngày nghỉ phép còn lại, ông hành thiền tại chùa, các người đệ tử của vị đại đức trụ trì đáng kính chu cấp cho ông đầy đủ nào đạm, nào tinh bột, nào đường, nào chất béo không thiếu thứ chi. Ông vô cùng cảm kích. Nghĩ cuộc đời cũng lạ, nhân duyên cũng lạ. Suốt bao nhiêu năm trường rẽ rừng vạch lối tu học, ăn lạt, ăn rau củ, ăn giấm, khổ hạnh chi cũng cố thử - cho đến bây giờ mới biết rõ là vô ích, tầm phào. Con đường chân chính đức Phật đã vạch ra, đã vén mở từ ngàn xưa là có giới mới có định, có định mới có tuệ. Mà mình thì cứ cả tin. Ăn có được cái chi chi! Có giới có định mới có cái chi chi chứ? Ông mỉm cười trong đêm.

Sau đó, tự nghĩ, bắt đầu từ nay phải học chữ Miên, chữ Pāḷi để nghiên cứu chuyên sâu vào Tam Tạng giáo điển như lời ngài thiền sư khuyến bảo. Trở lại ăn uống bình thường, không khổ hạnh, không kiêng khem; chỉ giữ tròn ngũ giới và thọ bát quan trai giới tháng 8 kỳ.

Làm thơ, học, học và học:

Trở lại Nam Vang, ông như thoát xác thành con người mới, lúc nào cũng rạng rỡ, vui tươi như trong tâm luôn có một nụ cười. Lúc tại công sở, lúc đi đường hay lúc về nhà - ai cũng có cảm giác khác lạ là có “một làn thanh khí hoặc một năng lượng trong lành” từ nơi con người ông tỏa ra. Ông bước tới đâu thì như đem đến sự an lành và mát mẻ tới đấy.

Nơi cốc liêu thanh vắng hằng đêm tại ngôi chùa cũ, ông thường để dành thì giờ để học chút ít chữ Miên và chữ Pāḷi nơi vị sư cả. Kinh điển, chữ nghĩa của vị sư cả chỉ đủ cho ông nắm bắt cái sơ cơ bước đầu - nhưng ông vẫn học, không dám khinh thường.

Ngoài ra, ông muốn ghi lại kỷ niệm đặc biệt những ngày thấy đạo - mà ông cứ loay hoay mãi không biết viết cái chi. Ký ức một thời học chữ Hán, đọc Đường thi và văn chương Việt hiện ra. Hay là ta làm thơ? Dường như đức Phật cũng hay nói kệ khi ngài cảm hứng, gọi là cảm hứng ngữ. Kệ là thơ đó mà! Các vị trưởng lão, Tăng và Ni - vị nào dường như, trong giây phút chứng ngộ họ đều có thốt lên kệ thơ cả. Ta không dám nói là chứng đạo - nhưng con đường ta đi thì rõ ràng đã thông suốt, sáng tỏ rồi! Vậy thì cứ viết ra thơ cái đó, nói lên điều đó, cảm nghĩ trung thực ngay chính trong lòng mình, lúc này...

Ông nghĩ tiếp: “ Phải làm thơ luật Đường thất ngôn bát cú, nó ít chữ mà lại cô đọng. Cái đó thì dễ rồi, mình làm được ngay; nhưng mà phải công phu hơn một tí nữa kìa - vì đây sẽ là bài thơ, chẳng dám dạy ai, để đời cho ai - nhưng mà nó để đời cho ta - một cái cột mốc quan trọng trên lộ trình tu tập của mình.”

Thế rồi, sau mấy đêm, hai bài thơ công phu được hình thành. Nó như sau:

ĐƯỜNG THẾ MỊT MÙ, TRĂM NĂM ĐẦY TỘI
CỬA THIỀN THANH TỊNH, MUÔN kIẾP NÊN DUYÊN

ĐƯỜNG đời lắm nỗi, cuộc bi ai
THẾ sự khác gì chốn góc gai
MỊT mịt hơi sầu vòng các tía
MÙ mù gió thổi chốn cân đai
TRĂM lo, ngàn liệu gây oan trái
NĂM mỏi, tháng mòn vướng nghiệp tai
ĐẦY đủ phước hồng rồi cũng bỏ
TỘI trường oan báo khổ liền tay!

CỬA Phật tháng ngày chẳng thảm ai
THIỀN môn nào phải chốn chông gai
THANH sơn đâu quản, khanh cùng tướng
TỊNH thất nào hay, mão với đai
MUÔN thuở an vui, hành bát chánh
KIẾP trần thong thả, lánh tam tai
NÊN chăng hỡi khách công hầu gẫm
DUYÊN kết Niết-bàn được rảnh tay!

Hai bài thơ này, mỗi bài là một bài thất ngôn bát cú có niêm vần đối luật nghiêm túc. Nhưng nối 16 chữ ở đầu câu thì thành một cặp đối cũng tương đối hoàn chỉnh; nên lấy cặp đối ấy làm đề tựa cho hai bài thơ, dẫu nó có hơi dài: “Đường thế mịt mù trăm năm đầy tội. Cửa thiền thanh tịnh, muôn kiếp nên duyên!” Như vậy, tuy ông luôn luôn khiêm tốn nói rằng chẳng biết chi văn chương chữ nghĩa; nhưng chỉ nội hai bài thơ dụng tâm, dụng kỹ thuật công phu như thế thì kẻ sành làm thơ luật Đường cũng phải ngả mũ chào thua!

Bài thơ này, ban đầu, do thích thú quá nên ông hay ngâm ư ử trong cổ họng để tự mình nghe, tự mình thưởng thức thôi - nhưng sau một người tò mò xin nghe, hai người tò mò xin chép - nên không mấy chốc lan truyền đi khắp chốn cư dân người Việt. Ai cũng thích!

Hôm kia, ông đến Pháp Bảo Viện của hoàng cung trả lại cuốn Tứ Diệu Đế mượn đã lâu - đồng thời, nhờ ông quản thủ hướng dẫn chỉ cho một số sách chữ Miên và chữ Pāḷi dễ đọc nhất.

Người quản thủ nói:

- Chẳng có sách nào là dễ đọc cả!

- Vì tui vừa mới học được chút ít.

- Thế thì tôi chỉ cho ông một số sách để tự học, tự nghiên cứu thêm thì được.

Thế rồi, ông mang số sách ấy về hỏi sư cả. Sư cả gật đầu vui vẻ nói:

-  Được! Có chí như vậy mới nên!

Ông kể lại chuyện hành thiền trên núi, gặp vị thiền sư, sau khi “kiểm tra” pháp hành của ông như thế nào, có lời khuyên như thế nào - rồi tâm sự:

-  Sự học bây giờ không còn phụ thuộc hoặc tích lũy cho cá nhân con nữa, mà đã trở thành “ước nguyện” chung, sau này giúp ích cho phần đông. Và con cũng canh cánh bên lòng, mong sao cho đất nước con, người Việt thân yêu của con, có được giáo pháp chân chánh mà tu học thì quý biết bao nhiêu. Con cũng chưa nghiên cứu, chưa đi đây đi đó, chưa hiểu biết gì nhiều - nhưng chắc ở Việt Nam chưa có giáo pháp như thế nầy!

- Chà! Là nguyện lớn đó! Là tâm bồ-tát đó!

- Dạ, không dám đâu!

Thế rồi, bắt đầu từ hôm ấy, ngoài công việc ở sở, thì giờ hành thiền của ông phải cắt xén bớt cho việc học. Ông cũng định đi thăm vị thiền sư có cho địa chỉ sẵn, nhưng ông nghĩ chưa cần - vì ít ra, muốn đi vào giáo điển thì phải học cho kha khá chữ Miên và chữ Pāḷi đã. Ăn một món ăn mà không biết cách cầm muỗng, cầm đũa thì làm sao ăn, dù người ta đã soạn sẵn!

Với sự chí thú miệt mài hơn một năm thì ông thấy mình đã có chút vốn liếng. Ông bắt đầu bỏ thì giờ đến thư viện nhiều hơn. Và rồi ông đã tìm được những quyển kinh và những quyển sách cần thiết bằng tiếng Miên nhưng có trích dẫn các câu chữ Pāḷi. Đó là các cuốn “Bổn phận của người cư sĩ tại gia”, “Đời sống và giới luật của người cư sĩ”, “Con đường nhân đạo và thiên đạo”, “Đức tin của người cư sĩ”, “Giới luật Sa-di”, “Giới luật tỳ-khưu”, “Giới, định, tuệ giản lược”, “Nhân quả nghiệp báo giản lược", “Abhidhamma giản lược”, “Kinh tụng Tam Bảo tóm tắt”, “40 đề mục thiền định.”. “Vipassanā, ngọn đèn trí tuệ”... Ông mừng quá khi thấy mình đã bắt đầu đọc được. Và chính nó sẽ bổ túc kiến thức giáo pháp đang còn quá non yếu ở nơi ông. Chỗ nào không hiểu thì ông chỉ cần hỏi vị sư cả là ông cũng có thể thu hái được một số điều lợi ích. Đôi khi ngồi nói chuyện với ông quản thủ thư viện mới biết rằng kiến thức về Phật học của ông này cũng rất uyên bác; và chỗ nào, chữ nghĩa còn mù mờ, ông cũng sẵn lòng giải thích cho.

Vị quản thủ còn nói:

- Có một số sách về sử học, về các ngả đường truyền giáo, sự hình thành và phát triển của các hệ phái Phật giáo - do người Pháp, người Đức biên khảo rất công phu, có trí thức đạo đức, khách quan và trung thực... ông cũng nên tìm đọc, sẽ lợi ích cho việc so sánh, tỷ giảo chỗ đồng, chỗ dị của những tư tưởng chính thống và những tư tưởng phát triển...

Nhờ các duyên lành này mà ông tiến bộ rất nhanh - cả nội điển và ngoại điển - tuy ông biết là biển học quả là bao la, mênh mông! Tuy nhiên, ông đã mỉm cười, nghĩ thầm:

“ - Chà! Kỳ trước, vị thiền sư hỏi mình những điều quá dễ,  mình cũng không trả lời được; hèn gì ngài đã dí dỏm bảo là chữ nghĩa ngoài da mà cũng không biết! Kiến thức của mình về giáo điển, về những thuật ngữ, so với độ đó, dẫu chưa bao nhiêu nhưng cũng đã cách một trời, một vực! Còn ngoại điển - những kiến thức bề rộng mình đang tích lũy dần dần ấy, thật là lợi ích cho việc truyền bá giáo pháp nguyên thủy - khi đối thoại với nhiều hệ phái, nhiều căn cơ, trình độ khác nhau, sau này”.

Tùy duyên hướng dẫn đồng đạo:

Do nhu cầu công việc của sở, năm đó, ông đổi đi nhận nhiệm vụ tại tỉnh Lò Ven (Preyveng); ở đây có khá đông cư dân người Việt. Ông tự nghĩ: “Biết đâu đây là nhân duyên tốt cho mình hướng dẫn họ tu tập; và biết đâu, đây là dấu hiệu đầu tiên để sau này giáo pháp được truyền bá về Việt Nam?” Đinh ninh về ý nghĩ ấy, đêm đó, sau thời hành thiền, ông chấp tay lên đỉnh đầu, phát lời đại nguyện: “Xin đức Sākya Gotama chứng minh! Xin chư thiên hộ trì! Nếu đất nước Việt Nam của chúng con có được phúc lành tu theo chánh pháp, thì các ngài hãy tạo duyên tốt, thuận lợi cho một số chư tăng Việt Nam lần lượt xuất hiện ở nơi này và ở nơi kia để cùng nhau tu học! Và sau khi có được pháp học, pháp hành đầy đủ, chúng con sẽ là những sứ giả đầu tiên mang giáo pháp về Việt Nam. Nếu ước nguyện ấy mà thành tựu thì ai bảo con nhảy vào đống lửa, con cũng sẵn lòng!” Nguyện xong, ông cảm giác tinh thần phơi phới, mắt trái nháy nháy liên tục, ông vui sướng biết là giữa cõi hư không linh thiêng, lời thỉnh cầu của ông đã được chấp thuận! Điều này tự ông biết chứ không thể giải thích được!

Cách tỉnh thành Preyveng chừng một cây số, ông và một số bạn hữu có lập một cái “trại” bằng tranh tre cây lá khá rộng rãi làm nơi tụ họp mọi người để tu tập. Nó như là một đạo tràng của cư sĩ. Nó tọa lạc trước một ngôi chùa cổ đã đổ nát có tha ma mộ địa khá hiu quạnh, rất thuận lợi cho việc hành thiền. Chưa bao lâu, do nghe tiếng ông mà người ta tìm đến khá đông, chừng ba bốn chục người - cả người Miên và người Việt. Ban đầu, ông phải hướng dẫn mọi người cùng tìm đến một ngôi chùa để quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới trước một vị tỳ-khưu. Nhân một ngày giới, ông thỉnh một vị sư đến đạo tràng cho họ thọ trì bát quan trai giới, rồi sau đó, hành thiền và kinh hành. Thời gian sau nữa, do giảng pháp, ông hướng dẫn các cư sĩ thọ bát quan trai giới tháng 4 ngày, rồi 6 ngày, rồi 8 ngày! Lúc này, trình độ Phật học và khả năng ngôn ngữ của ông đã có thể “vô ngại” giảng nói trước hội chúng cư sĩ nầy. Lợi ích của sự tu tập, con đường hạnh phúc của hiện tại và tương lai như thế nào ông đã giảng giải rất chi ly, cặn kẽ, thông suốt.

Do “hữu xạ tự nhiên hương”, người ta lại tìm đến nữa, có cả những cư sĩ trí thức người Miên, người Việt. Một số trí thức người Miên họ hỏi pháp rất mắc mỏ, nhiều câu rất khó đáp. Nhưng lạ lùng làm sao, ông chỉ cần nhắm mắt một lát, ngó vào tâm là ông trả lời được ngay, các vị này rất hoan hỷ. Có một số trí thức người Việt thì họ đọc kinh Bắc tông, tu theo tịnh độ tông, thiền tông hoặc mật tông - họ hỏi pháp lại càng khó hơn nữa. Có vị còn đọc cả đoạn kinh chữ Hán trong Kim Cang, Thủ Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Viên Giác... rồi bắt ông giải thích như kiểu đánh đố, làm khó nhau chơi! Nhưng lạy Phật, nhờ có học chữ Hán một thời, kinh sách Bắc tông ông cũng đã có đọc được một số - nên không nổi bị “bí”. Có chỗ, quả tình ông chưa hiểu tới, nhưng ông có đủ sáng trí, khôn ngoan và thông minh mà nói với họ như thế này:

- Thôi, quý vị hãy tạm thời bỏ đoạn kinh đó qua một bên; quý vị hãy chịu khó nghe tui trình bày, cũng cùng một ý nghĩa giáo pháp tương tự - theo giáo điển của Theravāda xem thử như thế nào?

Và thế là họ nghe, họ thấm. Họ lại còn phát biểu, đại lược là những lời ý như sau:

- Bên này giản dị, dễ hiểu và sát với thực tế hơn - thực tế với tham sân si phiền não như vậy thì tu tập như dzậy, như dzậy... Và ai cũng có thể tu được, cũng hành được. Rất cảm ơn A-cha! [6]

- Thiền tông cũng thế, nói rõ ra là thiền Huệ Năng, Lâm Tế hay Tào Động... đều có các ngữ lục mà trong đó, nhiều thiền thoại, công án khó hiểu quá - như đi trong khói, trong sương! Nhưng thiền Samādhi hay Vipassanā, cái lộ trình của nó, cái đường đi nước bước của nó ta có thể tìm cách mà lần dò, dọ dẫm theo được! Xin A-cha hãy hoan hỷ hướng dẫn cho chúng tôi!

Vậy đó! Hóa ra giảng nói giáo pháp cũng là một hạnh phúc hiếm có! Hướng dẫn người ta tin theo để cùng tu tập cũng là một hạnh phúc không dễ gì! Thật là không thể nói hết hồng ân của Tam Bảo! Mình có được nhân lành nào từ kiếp trước mà bây giờ lại có được những hạnh phúc cực kỳ như vậy chớ!

Hôm kia, ông suy nghĩ: “Đức Phật dạy rằng, con đường tu tập của Chư Tăng là hành theo Giới, Định Tuệ; con đường tu tập của cư sĩ tại gia là Bố thí, Trì giới, Tham thiền! Mấy lúc ni - ta chỉ mới hướng dẫn họ Trì giới và Tham thiền - nhưng Bố thí thì chưa! Âu cũng là một thiếu sót lớn!” Thế là trong một buổi giảng có chừng trăm người nghe, ông nói ra ý tưởng ấy. Hóa ra ai cũng hoan hỷ.

Mọi người xôn xao thảo luận:

- Bố thí cái gì là cao quý nhất?

- Bố thí đến ai là cao thượng nhất?

- Cái tâm của người bố thí như thế nào mới có phước báu thù thắng nhất?

Thế là ông phải giải thích. Ông giảng rất nhiều. Thế nào là bố thí bậc hạ, bậc trung và bậc thượng. Thế nào là pháp thí, thế nào là tài thí... Rồi cuối cùng ông kết luận mà như là những lời tâm sự:

- Tỉnh thành của chúng ta đây thuộc diện nghèo khó nhất. Đời sống của chư tăng theo đó, cũng khó khăn. Hôm tôi đến gặp vị sư trưởng phụ trách giáo dục tăng chúng tỉnh nhà để hỏi một số bài dịch phức tạp do câu chữ văn phạm Pāḷi. Trong câu chuyện, vị ấy ao ước có một ngôi trường để dạy Pāḷi cho tăng chúng. Nếu các sa-di lớn lên mà không có trường Sơ cấp, Trung cấp Pāḷi thì làm sao về Nam Vang để theo đuổi các lớp Cao đẳng? Đấy, vậy tôi đề nghị mình hùn góp nhau lại để xây dựng ngôi trường này.

Một cư sĩ có vẻ giàu có, phát biểu:

- Tôi tán thán, tôi ủng hộ! Làm trường học chính là bố thí pháp. Cho chư sa-di có chỗ, có cơ hội học Pāḷi là cao thượng đệ nhất rồi. Vậy, xin A-cha phác họa tổng quát quy mô và dự trù ngân khoản - để chúng tôi liệu tính mà cùng đóng góp.

Cuộc vận động ấy thành công ngoài ước muốn. Không những xây được một trường mà xây được cả hai trường! Cả Sơ cấp và cả Trung cấp.

Tại tỉnh thành Preyveng này ông còn làm đại thí chủ Dâng Y Kathiṇa đến 7 ngôi chùa; mỗi chùa có từ 30-50 vị, chùa đông nhất là 150 vị - mà ai cũng đầy đủ Y và tứ vật dụng!

Một việc quan trọng, có ý nghĩa dự báo và tiên tri nữa, đi theo với đại nguyện của mình - là trong thời gian ở đây - ông đã soạn dịch gần xong quyển “Luật xuất gia” cố ý dành sẵn cho chư tăng Việt Nam sau này. Tiếp theo là cuốn “Nhựt hành của người cư sĩ” cũng để dành sẵn cho thiện nam tín nữ ở quê nhà!

Như vậy, mới chỉ là cư sĩ, một mình ông với cái tâm lớn, với cái trí lớn - như vị thiền sư nhận xét - đã làm biết bao nhiêu là việc lợi lạc cho Phật Pháp, cho chúng sanh! Thật là bất khả tư nghì vậy.

Thử mang đạo tràng về nhà:

Hết nhiệm vụ ở tỉnh biên giới, trở lại Nam Vang, ông theo chương trình cũ, nhưng dành cho ông thì ít mà dành cho mọi người thì nhiều.

Bà thì vẫn với tính cũ, cứ “băng hăng bó hó” rất khó chịu, nhưng ông nhẫn xả quen rồi. Hôm kia, ông khởi lên ý nghĩ: “Đức Phật sau hai năm thành đạo, trở về quê nhà hóa độ cha mẹ, anh em, dòng tộc! Còn mình thì sao? Thật không dám so với đức Phật nhưng ít ra là “bà xã”cũng phải được ảnh hưởng chút nào chớ? Hay là cứ rủ cư sĩ đến nhà mình thọ trì bát quan trai giới, tọa thiền, kinh hành suốt ngày cho bà thấy, rồi từ từ bà sẽ thấm chăng?”

Nghĩ là làm. Ông tìm gặp vị sư cả chùa Mahāmontrey, nhân một ngày bát quan, trình bày ý tưởng ấy, sư cả đồng thuận ngay. Rồi sư cả còn hứa tìm chừng 10 cư sĩ khá nhất, vững vàng nhất để tạo năng lực cho đạo tràng.

Thế là hôm ấy, tại tư gia, buổi sớm, vị sư cả đến cho giới rồi về. 10 người cư sĩ nam nữ cùng ông, cứ hành thiền một tiếng là kinh hành 15-20 phút. Trưa, ai cũng có mang cơm nước sẵn, mời ông cùng ăn trong chánh niệm, tỉnh giác. Buổi chiều cũng vậy, lặng lẽ đi theo chương trình. Yên ổn, thanh tịnh cỡ khoảng 16 giờ chiều, bất thình lình bà xuất hiện với con dao bàn to ở trên tay. Bà hét lên:

- Nếu mấy người không giải tán thì tôi chém! Tôi sẽ chém ngay!

Mọi người sợ hãi dạt ra. Chỉ có mình ông là cứ ngồi yên. Ông thủng thỉnh nói:

- Ừ, bà ưng thì bà cứ chém! Tui ngồi đây, đang nhắm mắt đây, đang yên lặng đây! Bà cứ chém đi, tui không bỏ chạy đâu!

Nghe nói như thế, bà quăng dao, ôm mặt khóc, bỏ chạy xuống lầu. Cô con gái lớn, cô Diệu, đi học về, khuyên lơn bà một hồi bà mới chịu nín. Mọi người sợ hãi, lần lượt bỏ về hết, không dám ở tu nữa.

Thế là kế hoạch đem “đạo tràng về nhà” của ông đã thất bại. Ông tự nghĩ: “Lẽ thường, người nữ, bản năng tình yêu rất mạnh, từ “yêu” mà biến thành “hận” chỉ cách trong gang tấc; và thế là dễ rơi vào nghiệt chướng, oan trái. Vậy chỉ có cách là nhờ Diệu khuyên bảo ngày đêm. Con bé ấy có tâm đạo, lý trí vững vàng nó sẽ làm được việc ấy. Còn mình, khi bà “căng” thì mình “giùn”, khi bà “cứng” thì mình “mềm”. Phải rút bớt củi thì lửa mới dần dần tàn rụi. Cuối cùng, là phải rải tâm từ hằng đêm cho bà, nếu không, đến lúc nào đó đã quá muộn, sinh ra hối tiếc cũng không còn kịp nữa! Bà còn là người tốt đấy! Giận quá mất khôn mà thôi!” Thế rồi, theo phương kế của ông chỉ dạy, cô Diệu khôn khéo dẫn bà đi chơi chỗ này chỗ kia cho khuây khỏa; thỉnh thoảng kể cho bà nghe những tích truyện hay, về người hiền, người lành, người tốt - nhưng không đề cập đến Phật, Bồ-tát, đến chuyện tu hành gì cả. Chỉ như kể chuyện đời. Còn ông thì đêm đêm tưởng hình bóng bà trước mặt rồi trú định tâm từ, xuống cận hành, ban rải năng lượng tâm từ cho bà.

Quả thật, sau một thời gian kết hợp cả hai phương cách như thế - thì bà yên, chỉ còn phảng phất cái nét buồn buồn mà thôi! Ông lại còn cố gắng dành thời gian ở nhà thêm một ít, buổi sáng trước khi đi làm hoặc sau bữa ăn trưa; buổi chiều cũng không vội vã lên thất như trước nữa. Nói chuyện với bà và con cái về chuyện này chuyện kia hoặc thăm hỏi việc học hành của đứa này đứa nọ. Ông tâm niệm, trước sau rồi mình cũng phải đi xuất gia, khi ấy thì để hết thời gian và tâm trí cho giáo pháp, cho mọi người. Còn bây giờ, gia đình có yên thì mình mới yên được. Phải biết nhẫn xả và chờ đợi. Con đường mà đã thấy ánh sáng rồi thì chẳng cần hấp tấp, vội vã nữa - cứ trung đạo mà đi!

Sớm hôm kia, vào ngày nghỉ, ông ở nhà, thanh thản hít thở và nhìn ngắm mọi vật, mọi sự ở xung quanh. Có một gia nhân giúp việc từ ngoài cửa đi vào. Tự dưng, ông khởi lên một ý nghĩ vui: “Lâu quá mình không dùng khả năng của định lực, bây giờ hãy sử dụng nó, xem thử mình tiến bộ hay là thụt lùi!” Thế rồi, ông nhiếp tâm, trú vào một ý nghĩ duy nhất để chỉ huy tư tưởng của người ấy: “Hãy đi vào nhà và bước đến gần cầu thang!” Người gia nhân liền đi vào nhà và đi đến chỗ cầu thang ngay! “Bây giờ, hãy đi ra, và đi ra trở lại ngoài cửa!” Và người kia đã làm đúng như ý nghĩ của ông! Lúc ấy, có đứa con gái út đang nhảy rầm rầm ở phía trong, ông quay lại, khỏi lên ý nghĩ: “Nó sẽ không làm ồn nữa, mà nó sẽ đi ra đây, nhè nhẹ bước ra đây rồi cũng nhè nhẹ ngồi trên bắp vế của mình!” Quả thật, sau đó, sự việc xẩy ra đúng như vậy. Ông thầm vui trong lòng vì phát giác ra một kinh nghiệm mới. Là không cần trú định lâu, chỉ cần miên tục niệm hơi thở - định có tuệ chiếu soi - thì năng lực định không những không suy giảm mà lại càng tiến bộ! Nhờ thử năng lực định sớm hôm đó nên khi nào, ông thấy bà bắt đầu có dấu hiệu không tốt, là ông lại trú tâm, hướng đến bà, khởi lên ý nghĩ: “Thôi mà bà, xả đi, xả đi, thư giãn đi nào, buông xả đi nào!?” Thế là lập tức có hiệu quả ngay! Tìm ra phướng pháp đối trị ấy, ông rất hạnh phúc, biết là rồi nhà cửa sẽ yên ấm, bà không thể “quậy” ông được nữa đâu; và rồi chí hướng của mình sẽ thuận chèo, mát mái, sẽ thành tựu tốt đẹp thôi. Hiện tại, cái trái cây nhân duyên kia đang còn xanh, phải đợi thời gian nó mới chín muồi được! Phải biết chờ đợi cũng là thái độ của bậc trí.

Những người cùng chí hướng

Nhiều đêm suy nghĩ về việc tìm kiếm người cùng chí hướng - ông quyết định xin nghỉ phép 15 ngày về thăm quê tại làng Tân An. Cũng trong chuyến đi này, năm 1935, lúc trở lại Sài Gòn, Gia Định - ông muốn thăm viếng các bạn bè quen biết cũ, xem thử có ai còn ở đây và ai đã ra đi phương khác.

Tại nhà ông Ba Lý - Ba Lý cũng từ Nam Vang mới về thăm nhà - duyên may, ông gặp được ông Hiểu, có dáng dấp và phong cách của một quân tử Nho; và họ đã tỏ ra rất tâm đầu ý hợp.

Ông Hiểu nói:

- Từ nhỏ tôi học Nho, lớn lên thì tôi học Tây - nhưng gia đình lại thâm mộ Phật giáo truyền thống, một loại Phật giáo chỉ còn là hình thức thờ tự như tín ngưỡng dân gian... với đủ mọi loại cúng kiến, chú sớ, cầu khẩn, van xin... nó không phù hợp với cái “tạng” của tôi. Duyên may tôi đọc được một quyển sách của người Đức, lại viết bằng tiếng Pháp. Đó là quyển “Tuệ giác của đức Phật”. Vị học giả người Đức này có giới thiệu, rằng là muốn nghiên cứu một đạo Phật chính thống, gần với nguyên thủy thì nên đi sâu vào giáo điển Tam Tạng Pāḷi mà các nước Tích Lan, Xiêm, Miến, Miên, Lào... thuộc hệ Nam truyền - chính xác là Theravāda - đang gìn giữ, tu tập và phụng hành, như là quốc giáo của họ. Ông Ba Lý đây là bạn cũ của tôi, nghe mới từ Nam Vang về, tôi muốn đến để tìm hiểu Phật giáo ở đó ra sao, có đi gần với giáo pháp Nguyên thủy của đức Phật hay không?

Như gặp bạn tri âm, ông kể lại cho ông Hiểu nghe việc tầm đạo gian nan, vất vả của mình như thế nào trải qua mười mấy năm dọ dẫm, sục sạo kiếm tìm - cuối cùng, ông đã có được chỗ trú tâm trong giáo pháp chân truyền...

Ông Hiểu vô cùng mừng rỡ, dồn dập hỏi:

- Thế ông có có dự định sẽ mang giáo pháp ấy về Việt Nam không? Đã có kế hoạch gì chưa? Bạn bè đồng chí hướng đã có những ai rồi? Đã có ai xuất gia chưa hay chỉ là cư sĩ?

Ông trình bày nguyện ước của mình; và cũng tha thiết mong chư tăng người Việt sớm xuất hiện để cùng đảm đang sứ mạng cam go này.

Ông Ba Lý chợt nói:

- Tại chùa Sùng Phước ở ngoại ô Nam Vang, rất đông cư sĩ người Việt của mình ở đó. Tôi biết một người, đấy là ông Hộ [7], quê ở Sa Đéc, năm ngoái (1934), ông ta đã xuất gia Sa-di rồi, có pháp danh là Thiện Luật.

Nghe tin ấy, ai cũng vui mừng.

Ông nói:

- Ông thân của tui cũng thường hay đến đó, nhưng tôi lại chưa có duyên.

Ba Lý nói tiếp:

- Tôi biết ông cụ. Bạn bè ông cụ cũng đông. Điều đáng nói là ở đó có khá nhiều người muốn xuất gia, như ông Viên [8], ông Tông [9], Sáu Hoa, Ba Diên, ông Hương... Các vị ấy đều là bậc trí thức, học rộng, hiểu nhiều cả... Dzậy hôm nào trở lại Nam Vang, ông bạn chắc chắn phải ghé thăm Sùng Phước một chuyến đó!

Ông gật đầu:

- Vâng, vâng, tui sẽ đến! Bắt buộc tui phải đến!

- Còn nữa - Ba Lý tiếp - Tuy họ là bậc trí thức nhưng về giáo pháp thì còn lung tung lắm, chưa phân định rõ đâu là Theravāda (Thượng tọa bộ), đâu là Mahāsaṅghika (Đại chúng bộ), đâu là Mahāyana (Đại thừa)... phải nhờ sự chỉ bày, giảng nói cặn kẽ của bác sĩ thôi!

Ông nhũn nhặn:

- Tui chưa dám đâu!

Nói thì nói thế, nhưng sau đó, ông tiết lộ cho hai bạn nghe, rằng mình đã soạn dịch xong quyển “Luật xuất gia” dành sẵn cho chư tăng Việt Nam sau này; và quyển “Nhựt hành của người cư sĩ” cũng để chuẩn bị cho bà con ở quê nhà!

Ông Hiểu cảm động đến rưng rưng nước mắt:

- Thiệt là quý hóa! Thế thì ông đã lo liệu đâu vào đấy cả rồi! Dzậy thì ước mơ của chúng ta đến lúc nào đó sẽ trở thành hiện thực. Và nó đã bắt đầu hiện thực một cách mầu nhiệm rồi đó. 

Ba Lý cũng sung sướng nói:

- Về phương diện dịch thuật, thế là anh Giảng đã làm con chim đầu đàn. Tôi có chút ít văn chương chữ nghĩa, sau này, sẽ xin phụ tá với anh Giảng một tay!

Ông Hiểu cất giọng hồ hởi:

- Dzậy thì trở lại Nam Vang, các bạn làm sao tìm cho ra chư tăng Việt Nam đã xuất gia hoặc sẽ xuất gia làm lực lượng nhân sự nòng cốt; thứ nữa là nghiên cứu cho tới nơi tới chốn Tam Tạng Pāḷi, sau đó thành lập một ban dịch thuật ra Việt ngữ. Công việc trọng đại ấy các bạn phải khởi quyết tâm ba-la-mật làm cho bằng được. Còn tại đất Sài Gòn, Gia Định nầy, tôi sẽ đi tìm kiếm đất, xây chùa - đợi “phái đoàn truyền giáo” trở về - được chăng?

Ông nhăn mày nhưng rồi sau đó mỉm cười:

- Quả là nặng nề! Nhưng cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ chúng ta.

Ba Lý cũng gật đầu:

- Chẳng rõ tôi có xuất gia được không, nhưng chắc chắn tôi sẽ khuyến khích bạn bè đi theo con đường cao thượng ấy.

Cả ba người nắm tay nhau xiết chặt, với tình cảm thanh khiết, vắng lặng nhưng mỗi người tự biết là đang đảm nhận một nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng...

Và nhiệm mầu thay, cũng từ cuộc hội kiến hy hữu của những con người đồng chí hướng này, bánh xe chuyển pháp về Việt Nam đã bắt đầu khởi động...

Tiếp tục hướng dẫn mọi người

Trở lại Nam Vang, ông rất nóng lòng vì chưa đi thăm chùa Sùng Phước được do bận rộn công việc, nhưng rồi, duyên lại đến.

Đấy là hôm ông đổi đi làm việc ở tỉnh Stung-Treng. Đây cũng là một tỉnh biên thùy, giáp ranh Lào, cách Nam Vang chừng 400 cây số ngàn. Được biết ở đây có khá đông cư dân người Việt và người Lào.

Trên đường đi, vừa ra khỏi châu thành chừng mươi cây số, ông sực tỉnh, tự nghĩ: “Thì giờ còn nhiều, ta hãy đến thăm chùa Sùng Phước, cũng ở gần đâu đây!” Nghe ông thân và Ba Lý đều nói, đây là một ngôi chùa cũ, thuộc Bắc tông, đã đổ nát nhưng nhóm cư sĩ người Việt sửa sang lại biến thành chỗ gặp gỡ để họ cùng ăn chay, tụng kinh, niệm Phật.

Khi ông đến nơi, thật may là gặp mọi người rất đông. Chợt, Ba Lý xuất hiện với một số trí thức mà ông ta đã giới thiệu từ trước. Bên bàn nước, mọi người làm quen với nhau. Nào đây là ông Sáu Hoa, ông Ba Diên, ông Hương, ông Viên, ông Tông, ông Bảy Tiệm... Ông niềm nở bắt tay mọi người. Hóa ra, ai ai cũng đều đã nghe đến danh của ông. Thế rồi, sau đó, là rất nhiều chuyện được họ thảo luận; như đạo tràng tu học, tu là tu như thế nào, thờ tự như thế nào... Tuy nhiên, ông nhận thấy rằng, họ có trí thức, nhiệt huyết nhưng kiến thức về giáo pháp thì họ còn mơ hồ, chưa nắm vững cho lắm.

Nhìn lên chánh điện, ông thấy thuở trước người ta thờ tự nhiều Phật, Bồ-tát quá; hai bên tả hữu cũng vậy, trông như đa thần giáo. Ông không vội vàng điều chỉnh, và đã phải cẩn trọng, từ từ giảng giải cho họ hiểu. Ông đã để suốt nhiều giờ trình bày đâu là giáo pháp gần với nguyên thủy, đâu là tư tưởng của các bộ phái phát triển. Chỗ nào bị ảnh hưởng Bà-la-môn, chỗ nào bị ảnh hưởng Khổng, Lão cùng những tín ngưỡng dân gian. Nhờ lập luận vững chắc, kiến thức rộng và nhất là có năng lực của công phu hành trì, tu tập - ông đã nhiếp phục được hội chúng. Khi thấy mọi người hoàn toàn tin tưởng, ông đề nghị chính giữa chỉ nên thờ tự Phật Thích Ca - còn các pho tượng Di Đà, Quan Âm, Thế Chí, 18 vị La-Hán, Quan Công, Ông Táo, Ông Địa, Ông Tiên, Ông Thiện, Ông Ác gì gì thỉnh ra sau hậu tổ hết. Thế là gần như suốt ngày hôm ấy, ông phải ở lại đây, cùng xắn tay với mọi người, sắp xếp, quét dọn, chỉnh trang nơi thờ tự cho tôn nghiêm, dị giản, thanh tịnh.

Khi chia tay, ông Viên nói:

- Tôi đã quyết định rồi, ít năm nữa, tôi sẽ xuất gia!

Ông Tông cũng nói:

- Tôi cũng vậy, sau khi thu xếp xong việc gia đình!

Ông mừng rỡ. Ngắm nhìn khuôn mặt hiền từ, vóc dáng cao lớn của ông Viên; rồi nhìn qua vầng trán cao rộng, khuôn mặt sáng sủa của ông Tông - tự biết đều là những nhân cách lỗi lạc - ông nắm chặt tay của cả hai người:

- Các bạn hãy đi trước! Cứ hẹn nhau như vậy nghe!

Ông Ba Lý đưa tay chỉ Sáu Hoa và Ba Diên:

- Hai ông phán và ông thông này sẽ nằm trong ban dịch thuật đây.

Ông Hương mỉm cười:

- Thế thì các bạn dịch kinh sách được bao nhiêu thì tôi là người chịu trách nhiệm in ấn cho!

Cuộc gặp mặt này hóa ra là duyên kỳ ngộ - vì họ đều là nhân sự nền tảng cho công việc truyền bá giáo pháp về Việt Nam sau này.

Mấy ngày sau ông mới đến được nơi trấn nhậm. Nhà nước giao cho ông một tòa nhà lớn, khá rộng rãi có 4 phòng khá tiện nghi, đầy đủ điện, nước, nhà bếp, nhà vệ sinh đàng hoàng, sạch sẽ. Ông ngủ một phòng, một phòng ông làm việc, một phòng dành tiếp khách. Người ta cũng đã cho sẵn một chàng trai Lào khoảng 14 tuổi làm người giúp việc tay chân, ông cho ở một phòng. Sớm sớm có tài xế mang xe chở đến sở làm. Ông ăn cơm tại nhà có chú giúp việc lo chợ búa, nấu ăn.

Thuở ấy, bác sĩ thú y (học những 4 năm tại trường Cao đẳng thú y Đông dương - Hà Nội) thuộc vào hàng quan lớn có ngạch trật, lương bổng rất cao. Nơi nào công chức người Pháp ở đông thì nghề khám thịt đã trở thành quan trọng đối với họ - vì họ ăn ở rất vệ sinh, lúc nào cũng sợ những căn bệnh lây nhiễm từ heo, bò, gà, vịt... Ông là quan lớn, làm việc lâu năm nên dạy, hướng dẫn cán bộ, nhân viên là chính; lúc cần, ông đến tận hiện trường, chỉ bày cặn kẽ cho nhân viên. Do công việc nhàn hạ - nên ông thu xếp chương trình để đọc thêm kinh sách, học thêm tiếng Miên và tiếng Pāḷi. Nhưng đọc, nghiên cứu và dịch thì nhiều hơn.

Chừng được nửa tháng sau, ông nhận được điện tín: “Ông thân đau nặng, về gấp Nam Vang, nhớ ghé Sùng Phước lấy thuốc”. Đọc nội dung điện tín, ông nghi nghi - bèn vào phòng, ngồi thiền, hướng tâm xem thử. Hình ảnh ông thân hiện ra, mạnh khỏe, hồng hào không có triệu chứng ốm đau gì cả. Nên vào sở, ông không xin phép. Chiều, nhận thêm một điện tín nội dung như cũ nữa. Ông nghĩ, hay là hồi sáng, mình nhìn không kỹ - thôi để tối, lúc hành thiền nhìn xem một lần nữa coi! Tối, quả thật, cũng như ban sáng. Đêm ấy, ông còn biết hai việc. Thứ nhất, là nhóm cư sĩ ở Sùng Phước có mời 21 vị tỳ-khưu đến chùa làm lễ kiết giới Sīmā. Lễ xong, Phật tử trong vùng tìm đến rất đông. Có một số cư sĩ Bắc tông hỏi đạo, hỏi pháp rất “cay nghiệt” - nên họ cầu viện ông đến đấy! Do không biết cách chi mời ông nên họ giả mạo cái điện tín. Ông tự nghĩ: “Các bạn ta cần thì ta phải đến ngay tức khắc. Họ đều có Nho học và Tây học nhưng đụng đến kiến thức các hệ phái phát triển, nếu chưa nghiên cứu thấu đáo, e cũng phải bó tay. Mình cũng chỉ mới nghiên cứu chút ít, chưa đâu vào đâu - nhưng mình tự tin là có thể trả lời được. Nhưng là công chức của nhà nước, ta đâu có thể đi là đi được sao, trong lúc vừa mới chân ướt chân ráo đến làm việc, mà cái gì họ cũng đặc biệt ưu tiên cho mình cả! Việc thứ hai, mình sẽ đi - vì chỉ một tuần nữa là ông thân sẽ đích thân lên thăm mình ở đây mà!”

Và quả thật như thế, một tuần sau thì ông thân lên chơi. Và ông thân cũng vui vẻ tường thuật câu chuyện y như vậy - họ đã xin lỗi ông thân trước khi thảo cái điện tín ấy. Mấy ngày sau, thu xếp công việc, ông cùng với ông thân trở lại Sùng Phước, tổ chức cho bạn hữu tu tập ba ngày. Và những câu hỏi đạo “cay nghiệt” mấy hôm trước đã được ông giải đáp thỏa đáng. Hầu hết họ đã bỏ cách tu tập theo Bắc tông truyền thống - là tụng kinh, ăn chay, niệm Phật Di Đà - và xu hướng theo cách tu tập do ông hướng dẫn: Tam quy, ngũ giới, bát quan trai giới, tham thiền, kinh hành. Ai cũng hoan hỷ.

Trở lại tỉnh Stung-Treng, ông quan sát thấy buổi sớm chư tăng Lào đi bát nơi này và nơi kia mà có lẽ vật thực cũng khó khăn. Hôm kia, ông tìm đến một ngôi chùa Lào có khá đông tăng chúng, gặp vị sư cả, đảnh lễ rồi xin từ nay, thỉnh 10 vị sư đặt bát tại nhà. Ông nói tiếng Miên - và may thay, chư tăng Lào ở tỉnh này thường nói được cả tiếng Miên. Qua câu chuyện, sư cả thăm hỏi nguồn gốc, quê quán, cả sở học và duyên tu. Ông trình bày lại. Vị sư cả rất hoan hỷ. Trước khi ra về, tự dưng ông khởi lên ý nghĩ là phải học tiếng Lào, biết đâu, sau này lúc nghiên cứu, giáo điển Miên và giáo điển Lào có chỗ đồng, chỗ dị? Không biết vị sư cả có đọc được ý nghĩ của ông không, mà ngài mỉm cười rồi nói: “Nếu muốn học tiếng Lào, cũng không khó lắm đâu!”

Hôm đó, ra về, ông còn cảm giác lạnh cả người: “Hóa ra, đất Phật là nơi long đàm, hổ huyệt - đâu đâu cũng có thể gặp bậc chân tu; và họ còn có cả khả năng thắng trí - nơi một vị sư già trông rất xuề xòa, rất bình thường này!”

Thế là từ đó, cứ mỗi buổi sáng, ông đánh thức chú bé Lào dậy sớm nấu ăn qua quýt, đưa tiền cho chú đi chợ mua cá, rau, bún, nấm các loại rau, đồ nêm nấu, gia vị... rồi về nhà nấu sẵn 10 phần cơm, đợi ông về. Vào sở, sau khi chỉ bày công việc cho nhân viên, đích thân ông đi mua thêm thịt và các thứ khác, khoảng tám giờ là ông đã có mặt tại nhà. Rồi tự tay ông nấu nướng, chiên xào các món ăn. Lối 9 giờ là ông đã sẵn sàng đặt bát cho 10 vị sư - và bao giờ ông cũng gởi thêm một phần để nhờ dâng cho vị sư cả. Còn mình thì ông cũng mang theo một phần để vào sở ăn trưa. Trong thời gian này, ông tìm cách học tiếng Lào với chú bé Lào - và ông nghiêm khắc ra lệnh cho mình chỉ nói tiếng Lào với chú bé Lào chứ không được nói tiếng Miên nữa. Chỉ tháng đầu còn bập bẹ, ngượng ngập, riết rồi cũng quen, cũng sành sõi như ai!

Nhờ công việc diễn tiến đều đặn, không có những việc đột xuất nên ông đặt bát cúng dường như thế liên tục được sáu tháng dài.

Đây là vùng đất heo hút, không có bất kỳ một thú vui giải trí nào - nên dân chúng hễ rảnh là tụ nhau đánh bạc, uống rượu. Tại các công sở cũng vậy. Tại dinh của quan huyện, người Miên, ông ta cũng chứa chấp đánh bạc. Nhận thấy đây là một tệ nạn, ông quyết tâm lần hồi cảm hóa. Đầu tiên, ông mời một số công chức người Việt đến nhà chơi, ăn cơm, đàm đạo. Rồi một vài công chức người Pháp, người Miên, người Lào đến nhà ăn cơm, đàm đạo. Ban đầu là những đạo lý sống ở đời rồi sau đó từ từ đi vào Phật Pháp. Sau đó, có một vài người tu theo ông và ông đã biến cái phòng khách của mình thành một đạo tràng nho nhỏ. Chú bé người Lào phụ trợ hóa ra lại được việc. Cứ hễ có cơ hội là chú kể cho khách nghe việc ông chủ ngồi thiền suốt đêm, ánh sáng tỏa ra xung quanh như một vị Phật sống! Thế là một người, hai người xin học thiền; rồi cứ thế nó lan ra. Tiếng tăm ông vang dậy trong giới tu học. Vị sư cả nghe tiếng cũng tìm đến thăm ông. Rồi chư sư, rồi thiện nam tín nữ bản địa cũng đến thăm ông nữa.

Hôm kia, đúng ngày bát quan trai giới, ông mang vật thực và tứ sự đến chùa cúng dường. Ông thấy thiện nam tín nữ rất đông, ngồi đầy cả Chánh điện, họ tụng kinh, lạy Phật mà không thấy thọ bát quan trai giới. Ngạc nhiên, ông hỏi mấy người bên cạnh - họ đáp, chúng tôi chỉ thọ một tháng 4 kỳ mà thôi.

Nghe vậy, ông đứng dậy, nói lớn:

- Xin bà con cô bác yên lặng để cho tui nói vài câu, được chăng?

Mọi người ở đây, có số đã biết mặt ông, có số đã nghe tiếng ông, nên họ đồng lắng nghe.

Ông cất giọng dõng dạc:

- Thuở đức Phật còn tại tiền, chư thiện nam tín nữ đến chùa đều xin thọ trì bát quan trai giới mỗi tháng 6 ngày. Sau khi đức Phật nhập diệt ba tháng, đại hội kết tập Tam Tạng lần thứ nhứt, có 500 vị thánh tăng A-la-hán tham dự - quý ngài đã cùng nhất trí tăng thêm 2 ngày nữa, tức là 8 ngày! Vậy, tất cả chúng ta đều có duyên may gặp được chánh pháp, sao không cố gắng, hãy cùng chúng tôi tu bát quan trai giới mỗi tháng 8 ngày để khỏi uổng phí một kiếp làm người? Bà con có thấy đó là một phúc lành cao thượng không?

Không ngờ, sau lời phát biểu của ông, cả Chánh điện vang rân lời “Sādhu, sādhu - lành thay!” làm cho ông vô cùng hạnh phúc. Không bỏ lỡ cơ hội, ông tức khắc đi ngay đến liêu thất của sư cả - thỉnh ngài đến Chánh điện - cho giới bát quan đến thiện nam tín nữ.

Vị sư cả nhướng mắt:

- Ông nói cái gì? Cho tất cả mọi người sao?

- Dạ phải! Con và tất cả mọi người.

Nói thế xong, ông kể lại việc vừa rồi ở trong Chánh điện cho sư cả nghe.

Sư cả tán thán:

- Giỏi! Giỏi! Tôi làm sư cả chùa này hơn 20 năm - mà tôi đã cố nhắc nhở họ thêm hai ngày nữa thôi, cũng không được! Còn ông, chỉ nói một câu - đúng là một câu thôi - họ lại theo rần rần mới lạ! Lại cả 8 ngày nữa chớ!

Khi bước ra Chánh điện, vị sư cả vỗ nhẹ vai ông:

- Cầu Phật gia hộ, với hiện tượng này thì ông sẽ mang được giáo pháp về Việt Nam . Chư thiên đang ở bên ông đó. Hãy luôn hồi hướng đến họ.

Ông vô cùng cảm kích, cúi đầu: “Thưa vâng, thưa vâng!”

Chuyện như thế thôi mà truyền lan cả tỉnh. Các công viên chức tìm đến ông, xin được học thiền, bỏ đánh bạc, uống rượu. Dân chúng nơi này nơi kia cũng bỏ bớt cờ bạc, rượu chè - tìm đến ông hoặc đến chùa nghe pháp.

Hôm kia, sư cả nói với ông:

- Tôi là người Lào, nếu có giảng pháp thì chỉ có người Lào một ít người Miên, người Việt nghe mà thôi. Còn ông là người Việt, có uy tín với người Pháp, với người Việt, cả với người Miên, Lào - nếu mà ông giúp tôi giảng pháp, mỗi tháng một kỳ cũng được - thì thật là lợi ích cho mọi người lắm lắm!

Ông sợ hãi:

- Con không dám, con không có đức độ!

- Ông là cư sĩ nhưng ông có giới, có định, có tuệ đấy. Thân là cư sĩ nhưng tâm ông có khác nào là bậc xuất gia? Hãy mạnh dạn lên. Tôi mà cho phép thì ở tỉnh này không ai dám nói gì đâu!

Vậy là tuân lời sư cả. Mỗi tháng ông chọn ngày cuối tháng để thuyết pháp, bằng tiếng Miên. Ông không dám ngồi trên tòa Pháp Sư, mà ông ngồi giữa chánh điện cùng với thiện nam tín nữ xung quanh. Lúc này, trình độ giáo pháp của ông đã khá vững vàng. Sau thời pháp, một số người đặt câu hỏi. Có hai ông Tây tò mò đến nghe, dẫu không hiểu thời pháp nhưng cũng hỏi. Ông trả lời lưu loát bằng tiếng Pháp. Một số người Việt hỏi, ông trả lời bằng tiếng Việt; và tương tự như thế là với người Miên, người Lào. Dường như mọi người đều thỏa mãn, hoan hỷ.

Vị sư cả vui sướng, tươi rạng cả khuôn mặt, ân cần nói nhỏ với ông:

- Phật giáo là của cả thế giới, cho cả nhân loại. Chư thiên xúi ông đến đây là để giúp tôi một tay đó!

Còn ông quan huyện, người Miên, đến gặp ông, nói rằng:

- A-cha lên đây giảng pháp, nói đạo - làm cho nhà tôi không còn chứa bạc được nữa. Thôi! Từ nay tôi cũng cùng xin tu với A-cha luôn!

Nghe vậy, ông sung sướng quá.

Thấy cư dân xứ sở này hiền lành, bắt đầu nghe theo ông để tu tập - nên hôm kia, ông khởi tâm bỏ tiền ra để làm một cuộc trai tăng lớn - gồm 100 vị sư mời thỉnh trong 7 chùa. Do cuộc lễ tương đối lớn lao - so với tỉnh nhỏ nầy - nên sau khi mời quan huyện, ông mời luôn cả quan Chánh và Phó chủ tỉnh người Pháp cùng đến tham dự.

Vị sư cả ngần ngại:

- Có được không? Họ đâu có tin Phật?

Ông giải thích:

- Người Tây họ khác mình. Hai ông chủ tỉnh nầy có trình độ giáo dục, văn hóa rất cao! Ngài cứ tin con đi - chỉ vì lịch sự thôi - họ cũng phải đến dự lễ rồi, huống chi đây là địa phận do họ quản nhậm, họ phải biết con dân của họ làm cái gì chớ?

Muốn cho cuộc lễ quy mô, trọng thể một chút - ngoài việc đặt bát 100 vị sư, ông mời thêm chừng 500 thiện nam tín nữ cùng đến, cùng dùng trưa, cùng hành thiền, kinh hành... Ông nhờ khoảng 30 cô người Việt lo việc nấu ăn, hào soạn, có 20 cô người Lào cùng giúp một tay. Ông trao các cô 16 đồng [10], bảo nếu thiếu, ông sẽ đưa thêm.

Quan chánh và phó chủ tỉnh đến, mỉm cười, nói với ông rằng:

- Ông triệu tập dân của tôi ở đâu mà đông dzậy? Kiểu này, nếu mà ông làm chính trị, ông chỉ hô một tiếng là chúng tôi nguy to!

Ông cười xòa:

- Rồi ngài sẽ thấy, dân ở đây họ chỉ biết tu thôi đó! Chúng tôi cũng dzậy! Kiếp người là kiếp phù du - chúng tôi chỉ lo hạnh phúc cho nhiều đời.

Chứng kiến cuộc lễ từ đầu đến cuối - quan Chánh và Phó chủ tỉnh từ chối dùng trưa, dẫu được mời; nhưng trước khi ra về, ông chủ tỉnh phát biểu ý kiến:

- Đạo Phật giúp cho con người hiền lành, thuần hậu. Họ dẫu đói nghèo nhưng rất vui tươi, rất an lạc. Rồi ông cũng giúp tôi cách đặt bát cúng dường cho chư sư chớ?

Vậy là cuộc lễ thành công. Gặp các cô lo việc bếp núc để tính toán chi phí. Các cô trả lại ông 16 đồng, nói rằng:

- Thiện nam tín nữ họ không chịu. Họ đã cùng hùn tay được 20 đồng để lo cho toàn bộ chi phí ngày hôm nay. Họ còn bảo rằng, A-cha có phước nhiều rồi, hãy cho họ được kiếm chút ít phước báu!

Nói thế là ông đành chịu. Hóa ra không tốn đồng nào cả mà tổ chức được buổi lễ rất lớn, vang động cả tỉnh thành. Riêng ông thì ông không quan tâm việc nổi danh - mà ông mừng ở chỗ là tín tâm, đạo tâm của Phật tử như được tăng lên một bực - kể cả hai ông Chánh và Phó chủ tỉnh cũng đã thay đổi cách nhìn, lại còn muốn đặt bát nữa chớ!

Xong việc, về nhà, gần tối thì có một ông phán người Việt tìm đến, nói rằng:

- Hồi sáng, tham dự lễ, được đặt bát cúng dường, tôi hoan hỷ quá, kể lại cho vợ con nghe. Ai cũng thích. Vợ con tôi muốn mời thỉnh 10 vị sư để trai tăng tại nhà - hầu hồi hướng phước báu đến cho ông bà cha mẹ nhiều đời - mà tôi không biết cách! A-cha hướng dẫn cho tôi với nghe!

- Ông phán ở đây rất lâu mà! Chắc phải rành rõi hơn tôi chớ?

- Không đâu! Mời thỉnh chư sư tôi không biết cách - và ngay cả người nấu nướng cho 10 vị một lúc, tôi cũng không biết nhờ ai! Rồi còn cách thức lễ nghi, đọc kinh gì đó, tôi đâu có biết!

Thế là ông phải giúp. Viết giấy đến sư cả để thỉnh 10 vị, và  nhờ ngài cho ba cô người Việt đến hướng dẫn cùng phụ giúp nấu ăn.

Phát nguyện Chánh Đẳng Giác:

Khi rời Nam Vang đến đây, ông đã mang theo cả va-ly kinh sách mượn của thư viện để đọc, nghiên cứu, học và dịch thuật. Hiện ông đang soạn dịch một lúc bốn chương kinh quan trọng, và đang vấp một số câu Pāḷi không thể chuyển sang Việt ngữ nổi. Muốn đối chiếu bản tiếng Miên thì ở đây không có. Tìm đến hỏi sư cả thì ngài cũng chịu. Ông đăm chiêu suy nghĩ: “Ở đây thì mình có thể giúp được chút ít cho nhiều người - nhưng sự học sẽ không thăng tiến được! Đúng là người sinh vùng biên địa thường thiếu phước báu. Muốn lợi lạc cho nhiều người thì mình phải trở lại Nam Vang, có nhiều thuận lợi cho việc tra cứu hơn. Nhưng trước nhứt là mình thử xin phép nghỉ một tháng cái đã.”

Trước khi mang đơn đi xin phép, ông vừa van vái chư thiên vừa gởi tư tưởng “chấp thuận” đến ông Chánh chủ tỉnh. Quả nhiên, vừa xem qua, ông mỉm cười, nói dịu dàng:

- Hết phép thì trở lại liền nghe. Tôi mới tập đặt bát cho chư sư, chưa sành lắm đâu, phải nhờ ông chỉ bày thêm cho nó có phước!

Khi ông xuống tàu về lại Nam Vang, không biết có linh tính gì mà thiện nam tín nữ Việt, Miên, Lào đưa tiễn rất đông. Kẻ bịn rịn thương tiếc. Kẻ mắt đỏ sụt sùi. Ông chia tay, nói mấy lời có ý nghĩa chung chung - rằng là chúng ta là con Phật, cứ tu hành cho tốt là sau này sẽ gặp nhau lại, lo chi! Nói thì nói vậy nhưng ông có cảm giác là không trở lại được với bà con ở vùng heo hút này nữa.

Về lại tư gia, ông cảm nghe trong không gian có cái gì đó thanh bình hơn xưa. Ông mừng lắm, kể chuyện xẩy ra ở tỉnh biên thùy cho cả nhà nghe. Ông còn khoe là ông học được tiếng Lào, nó cũng gần gần tiếng Miên, không khó lắm.

Ngay ngày hôm sau, lục tìm địa chỉ, ông đến thăm viếng, đảnh lễ vị thiền sư thuở trước ở trên núi. Nhưng ngài đi vắng. Ông trở lại Pháp Bảo Viện, sau khi trình bày sự khó khăn lúc phiên dịch - ông quản thủ thư viện giới thiệu qua sư cả chùa Phước Sơn. Đến Phước Sơn, vừa nghe đến tên chùa [11], ông tưởng là sẽ gặp người Việt, hóa ra không phải. Vị sư sáng lập ngôi chùa này là người Việt, miền Nam , thị tịch đã lâu rồi - bây giờ tất cả chư tăng ở đây đều là người Miên.

Được sự hỗ trợ của sư cả Phước Sơn, sự dịch thuật đã xuôi lọt - và ngài cũng giúp ông lần hồi, chập chững đi vào Tạng Miên. Cũng tại đây mà ông học được thêm một ít từ tạng Abhidhama.

Khi gần hết phép, do làm việc nhiều quá mà ông lâm bệnh, phải vào nằm viện, phải đánh điện tín về tỉnh Stung-Treng cho quan Chánh chủ tỉnh và quan Chánh chủ sở thú y hay. Ít hôm sau, một lúc đến bệnh viện cả hai điện tín. Một là của ông Chánh chủ tỉnh gởi cho ông, hỏi thăm tình trạng sức khỏe. Hai là của quan Chánh chủ sở gởi bác sĩ trưởng bệnh viện, hỏi là chừng nào thì ông có khả năng xuất viện?

Chẳng rõ ai xui, ai khiến - hay là do chư thiên xúi bẫy hộ trì ông - mà bác sĩ trưởng bệnh viện, người Pháp, đã đánh liền hai điện tín trả lời, đại ý như sau: “Cơ thể, khí huyết của bệnh nhân không hợp với khí hậu, thời tiết, thung thổ khắc nghiệt ở Stung-Treng; lại nữa, chính ở đây mới có đầy đủ thuốc men để chẩn trị. Đề nghị các quan lớn ưu ái cho đương sự được trở lại nhiệm sở ở kinh đô Nam Vang như cũ mới bảo đảm được sức khỏe phục vụ lâu dài!”

Dĩ nhiên, vì là quan lớn Pháp với nhau - nên yêu cầu ấy đã được điện về, chấp thuận. Quả là nhiệm mầu!

Bác sĩ gặp ông, mỉm cười kể lại việc ấy rồi nói rằng:

- Không biết tại sao mà tôi lại nghĩ, phải giúp ông điều đó, không giúp không được!

Khi ra viện, ông trịnh trọng mang quà cáp đến để tri ân tấm lòng của bác sĩ, nhưng bác sĩ không nhận, lại còn cười nói:

- Ông mang về đi! Không có ân nghĩa gì ở đây hết! Lần đầu tiên trong đời, làm bác sĩ trưởng mà tôi đã báo cáo bệnh án dối - nhưng sao trong lòng cứ vui mãi mới kỳ!

Riêng ông, ông biết, đây là cảm ứng giữa cõi linh thiêng, là bất khả tư nghì nữa vậy.

Do nhu cầu học hỏi, lúc này ông hay tìm đến chùa Phước Sơn, thỉnh thoảng lại được gặp các vị giáo sư, được đàm đạo ít nhiều về giáo pháp, ông cảm thấy rất lợi lac.

Biết trình độ tu tập của ông, hôm nọ, có mặt cả các vị giáo sư, sư cả Phước Sơn nói với ông:

- Ông ráng tu cho đắc quả Thanh Văn cũng được. Đời này mà thấy được Tứ thánh, chư thiên và nhân loại đã hoan hỷ lắm rồi, giáo pháp, theo đó sẽ được hưng thịnh. Còn quả vị Chánh Đẳng Giác lâu lắm đấy!

Ông ghi nhớ câu nói đó trong lòng. Tối đến, trong lúc hành thiền, ông quán sát tâm mình và tự hỏi: “Trong quá khứ, không biết tui đã có tu tập như thế nào, và các ba-la-mật như thế nào, do quá khứ che lấp, không được thấy, không được biết. Vậy xin sức mạnh của các công năng đã từng hành trì từ quá khứ cho đến hôm nay - cho tui được thấy dấu hiệu, hiện tượng gì đó - để tui có thể lựa chọn nên phát đại nguyện thành tựu Thanh Văn hay Chánh Đẳng Giác?” Rồi ông chú tâm, nhất cảnh - lát sau, trong tâm ông chợt hiện ra một biển lớn, song bủa dữ dội, cả triệu triệu người lặn hụp, chìm nổi, nhấp nhô, chấp chới kêu gào đầy vẻ thảm não, tuyệt vọng... mà chẳng có ai cứu vớt. Một chiếc thuyền cũng không! Một chiếc phao cũng không! Xả thiền, ông rươm rướm nước mắt, cảm thương cho chúng sanh quá. Rồi từ đấy cho đến sáng, cứ ngồi thiền một lát thì hình ảnh ấy lại hiện ra, thế là cả ba lần cùng thấy một cảnh giống nhau. Ông tự kết luận: “Vậy là trong quá khứ, dưới chân một đức Chánh Đẳng Giác nào đó - mình đã có phát nguyện hành trì 30 ba-la-mật để thành tựu quả vị Phật rồi, không sai!”

Do nghỉ phép được nửa tháng, ông ghé Sùng Phước để thăm bạn bè cũ. Vì không đúng kỳ bát quan trai, cũng không đúng ngày chủ nhật nên chỉ gặp được ông Miên, ông Sanh, ông Thạnh - những người Việt gốc Miên đang được phân nhiệm trông coi chùa. Ông Thạnh cho biết là Sa-di Thiện Luật đã xuất gia tỳ-khưu rồi; và ông Hồ Văn Viên  cũng đã xuất gia tỳ-khưu, có pháp danh là Huệ Nghiêm! Họ có đến đây thăm chùa, và ai cũng muốn gặp bác sĩ...

Mừng quá, ông nói:

- Tốt quá! Thật tốt quá!

Ông Thạnh nói tiếp:

- Các bạn, nhất là ông Ba Lý cũng bảo là chúng tôi cũng nên xuất gia để trông coi ngôi chùa này, đạo tràng này!

Nghe vậy, ông vui mừng quá đến rơm rớm nước mắt, vội biên thư thông báo cho ông Hiểu hay những dấu hiệu khả quan ban đầu.

Rời Sùng Phước với tâm trạng bồi hồi, ông đến tỉnh Battambang, lên núi để hành thiền.

Đến chân núi thấy có một ngôi chùa lớn, ông vào đảnh lễ Phật, đảnh lễ vị sư cả đã được một số cư sĩ quen giới thiệu, ngài tên là Boddhiveal. Trong lúc hầu chuyện, vị sư cả nhìn ông và quan sát ông một hồi rồi nói:

- Ông thiện nam người Việt tu tập mà định tuệ gì cũng tốt cả; lại còn giỏi tiếng Pháp, Pāḷi, Miên, Lào nữa. Ông chưa tới mà cái danh thơm A-cha của ông đã đến đây rồi đó!

Ông cúi đầu nhũn nhặn:

- Chỉ có được chút ít, người ta đồn hơi quá đó thôi, thưa sư cả!

Sư cả mỉm cười rồi bảo một sa-di dẫn ông lên lầu, nói rằng:

- Xá-lợi tóc và xá-lợi răng của đức Phật, nghe đâu, ông đã từng thấy ở cung trời Đao Lợi? Bây giờ, ông hãy lên đó mà chiêm bái xá-lợi Phật và xá-lợi chư vị thánh tăng, tại nhân gian một lần đi!

Trước những tháp thờ xá-lợi tôn nghiêm, nạm bạc vàng, châu ngọc lóng lánh; hai tay chấp lại, ông đứng lặng rất lâu, nói thầm trong tâm rằng: “Đệ tử xin hết lòng duy trì chánh pháp, nguyện đi theo gót chân của chư Phật quá khứ, thành tựu các công hạnh ba-la-mật - dẫu cho thịt nát, xương tan cũng sẽ không rời mục đích tối thượng của mình!” Rồi ông chìm ngập nhất như trong miền tâm cảnh ấy. Không biết thời gian trải qua bao lâu, ông giật mình, tự nghĩ: “Mình lên đây để chiêm bái xá-lợi mà!”. Thế rồi, ông chiêm bái xá-lợi một lúc lâu rồi xuống.

Tối hôm đó có rất đông thiện nam tín nữa đến thăm ông, có lẽ do sư cả Boddhiveal báo tin. Ngài để ông được tự do nói chuyện với mọi người tại bảo điện, có giới thiệu sơ cho ông biết rằng: Chùa này lâu lâu có một khóa thiền, một lần mười ngày hoặc nửa tháng, có một thiền sư đến dạy. Số cư sĩ này đều có theo học cả đó.

Vì là sơ giao nên ông không dám nói chuyện gì với họ nhiều, chỉ nói rõ mục đích của mình:

- Tui là công chức của nhà nước. Trong thời gian được nghỉ phép, muốn tìm lên núi vắng để tập thiền dzậy thôi!

Một cư sĩ nam đã đứng tuổi, nói rằng:

- A-cha không cần thiết phải khiêm tốn như dzậy. Sư cả có kể chuyện A-cha với chúng tôi. Mà bạn bè của tôi ở Nam Vang, ở Stung-Treng cũng có kể về A-cha. Vậy, mấy khi A-cha đến đây, hãy hướng dẫn cho chúng tôi hành thiền.

- Thưa, có sư cả ở đây, tui đâu dám!

- Sư cả không có dạy thiền. Hạnh của ngài là lo cho tăng chúng, xây chùa và mọi nhu cầu về đức tin, tín ngưỡng cho thiện nam tín nữ trong vùng.

- Thế thì đã có vị thiền sư hay đến dạy những khóa thiền rồi, tôi cũng không dám qua mặt.

Một người khác nói:

- Chính vì ngài thiền sư ấy mà chúng tôi nghi ngờ đó!

- Chuyện sao dzậy?

- Trong khóa thiền vừa rồi có một cô tu nữ người Miên hành thiền, sau khi trình pháp, vị thiền sư tuyên bố cô ấy đã đắc định sơ thiền! Hiện tại, cô ấy còn ở tu trên núi.

- Dzậy thì có chuyện chi xẩy ra? Người ta tu định thì cũng có thể đắc sơ thiền lắm chớ?

- Nhưng thấy cô ta cũng thường thường thôi mà! Định sơ thiền đâu phải đơn giản!

Ông gật đầu:

- Quả dzậy, cũng không phải là dễ dàng gì!

- Dzậy nên chúng tôi mới nhờ A-cha khảo sát!

Ông lắc đầu:

- Việc ấy tui không làm được!

Thấy họ yêu cầu quá, ông từ chối cách khác:

- Có lẽ tâm định của cô tu nữ cao hơn tui, tui làm sao dám khảo sát!

Biết là họ không chịu nhưng ông nghĩ mình không có tư cách gì xen vào việc tế nhị ấy.

Sáng hôm sau, ông kiếm xe đi vào núi một mình, cách chùa chừng 14, 15 cấy số ngàn. Có một thung lũng có suối, có cây cỏ, thác đá rất đẹp, rất thanh bình. Lúc lần bước theo con đường vào rừng thì thấy hai chiếc xe Cam-nhông (Camionette) đổ khách xuống, chừng 50 người. Hóa ra là thiện nam tín nữ dưới chùa, họ đi tìm ông. Ông nói:

- Quý vị theo tui mần chi?

Có một vị cười:

- Chúng tôi tranh thủ đi chơi, đi picnic (dã ngoại), và cũng đi tập thiền luôn thể.

Ông đáp:

- Tui rảnh phép được nửa tháng, tìm nơi thanh vắng để tu tỉnh một chút. Bây giờ đông người như thế này...

- A-cha cứ lên rừng, cứ tu ở trển, chúng tôi ở ngoài bìa rừng, phía dưới này, không tạo trở ngại, huyên náo, ồn ào chi cho A-cha cả.

Người khác nói:

- Chúng tôi cũng sẽ dựng lều trại loanh quanh đây để cùng tu tập cho dzui mà! Tu hành phải có bạn, phải không bác sĩ quý kính?

Người khác nữa:

- Tu thiền trên núi, nhưng A-cha cũng phải ăn, phải dzậy không nào? Dzậy đến giờ ăn, A-cha hãy dzui chân xuống đây, lúc nào cũng có phần ăn cho A-cha cả. Đặc biệt, chúng tôi hân hạnh được thỉnh mời đó!

Hóa ra họ đều là những con người hào sảng, chân tình cả. Ông đành phải nhận lời. Khi mang xách, rời chân lên núi thì có hai ông cư sĩ tuổi khoảng trung niên, trông sắc mặc, trang phục có vẻ phú gia, mang theo mỗi người một cái đãy, tình nguyện cùng ông lên núi hành thiền.

Rừng sầm uất, tĩnh lặng. Càng đi sâu vào thì thấy có nhiều hang đá. Ông lựa chọn quanh quất rồi tìm được cho mình một cái hang cạn - vì sâu thì sợ ẩm ướt và rắn rít. Một ông cư sĩ dòm xem rồi phát biểu:

- Trông nhỏ nhít như hang chuột thế này thì ở sao tiện?

Ông tủm tỉm:

- Chuột! Nhưng chuột thì nhất định phải hơn gà rồi, phải không?!

Ông cư sĩ kia lanh trí, biết ý của ông nên nói với bạn mình:

- Đã nghe rõ chưa! Gà bao giờ cũng có sẵn lúa ăn, được chủ nuôi cho mập - rồi đến lúc, họ cắt cổ, lấy tiết, vặt lông, trụng trong nồi nước sôi, xé phay tiêu muối, rau răm để ăn nhậu. Chuột chẳng có lúa gạo, chẳng ai nuôi, tự tìm lấy cái ăn, chẳng sợ ai giết thịt, lại được tự do tự tại. Thân phận của chúng ta là gà phố thị, gà đồng nội, còn A-cha của chúng ta là chuột núi, chuột rừng đó!

Câu ví von so sánh dí dỏm ấy làm ai cũng phải phì cười.

Hai người tìm được một hang đá rộng rãi, họ ở với nhau. Còn ông, ban đầu tưởng chọn cái hang cạn, có ánh sáng - nhưng đi vào sâu ba thước lại có một cái ngách, bên trong có cả tấm thạch bàn, có chỗ đặt tượng Phật, chỗ thắp nhang; lại được treo sẵn một bộ xương người - chắc đây là “cơ ngơi” của ai, trước đã từng tu tập, quán “đề mục tử thi” chọn chỗ tạm cư!

Sau khi quét dọn chỗ ở, ông đặt lên tượng Phật, đốt đèn cầy, thắp nhang, tụng kinh Tam Bảo, hồi hướng đến chư thiên, thọ thần, sơn thần như thường lệ. Trưa, ông nhịn, chỉ uống nước ngoài suối - rồi hành thiền suốt cả buổi chiều, lặng lẽ đi vào định không trở ngại gì, không cần ra ngoài kinh hành. Tối, ông tập đi vào đi ra các định đề mục đất, đề mục nước, đề mục ánh sáng, đề mục tâm từ - thấy vẫn nhẹ nhàng, thông suốt, thuần thục không trở ngại gì. Giấc gần sáng, ông niệm hơi thở, trở lại tuệ quán, chấp tay khấn giưa hư không: “Đệ tử phát nguyện tu hành bất thối cho đến khi chứng quả Phật để giáo hóa chúng sanh thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi!” Lời nguyện vừa dứt, trước ngực ông hiện ra một vầng hào quang, sáng như ngọn đèn măng-sông - tròn, to, rõ rệt. Trong vầng hào quang đó, hiện ra nào núi, nào sông, nào trăng, nào sao, nào người, nào vật, nào cỏ cây, hoa lá và muông cầm điểu thú các loại... Phỉ lạc trào dâng... rần rần, bay bổng... ông cảm giác chưa có một hạnh phúc nào trên trần gian có thể bằng “một phần mười sáu” như hạnh phúc mà ông chứng nghiệm hôm nay.

Tiếng hống của tiểu sư tử!

Sáng ngày, ông thảnh thơi, nhẹ nhàng như bước trên đầu cỏ, đến rủ hai ông cư sĩ xuống thăm thiện nam tín nữ. Nhìn sắc mặt ngời ngời của ông, họ thốt lên:

- Sắc mặt A-cha như có hào quang!

Có người thực tế hơn:

- Thế là trưa hôm qua A-cha nhịn ăn, hôm nay phải ăn bù đấy nhớ!

- Phải dzậy - người khác nói - kẻo xuống Nam Vang, người ta bảo là chúng ta đã bỏ đói A-cha, có mang tiếng oan uổng không chớ?

Thế là họ dọn cơm cho ông ăn. Mỗi người mỗi món, thật không thiếu thứ gì.

Ông cười vui:

- Bà con cho ăn hậu hĩ, thịnh soạn quá dzậy! Cứ xem cái chất lượng những món ăn này, ba ngày tới chắc tui không cần ăn mà vẫn còn đầy đủ năng lượng.

Do bị ép quá nên ông cứ ăn thêm một miếng, thêm một miếng mãi - nên khá no. Phải đi kinh hành non một tiếng để tiêu hóa.

Buổi chiều, họ chưa cho ông lên rừng, nói là còn dài ngày, phải nói đạo, nói thiền cho họ nghe đã. Thấy họ tha thiết và chân tình quá, ông đành phải ngồi lại.

Vậy là dưới các tàn cây mát mẻ, ngay tại bìa rừng - lại hình thành một pháp hội, trông hồn nhiên, vui vẻ mà cũng đạo vị vô cùng.

Ông mở đầu, lời rất từ tốn:

- Tui không dám khoe pháp bậc cao nhân, cũng không dám nói quanh với bà con cô bác - là tu định thiền cũng như tuệ quán, bây giờ, đối với tui, nó như hơi thở, như cơm ăn, nước uống; nó cần thiết cho sự sống tâm linh của tui vô cùng. Lâu ngày nó quen thôi, chẳng tài giỏi chi cả. Bây giờ, bà con bắt bí tui, bắt tui nói đạo, nói thiền, tui biết nói cái chi, vì trình độ tui có hạn....

Họ lại lao nhao:

- A-cha lại khiêm tốn nữa rồi!

- A-cha ăn nói sao mà lại nhún nhường, dễ thương đến dzậy!

Ông tiếp tục:

- Bây giờ bà con cô bác thử nói mình tu, mình niệm như thế nào; tâm trú vào đâu, trú như thế nào, bao lâu? Rồi nói tiếp nữa cho tui nghe coi nơi thân xảy ra cái gì... như tê, ngứa, đau, nhức, rần rần, nhẹ lâng lâng, chớp ánh sáng hay là mát mẻ cả người như thế nào? Cứ kể hết đi, cứ nói hết đi! Bạn đạo với nhau dễ ăn, dễ nói? Rồi có ai lên cao được chút nữa, vào sâu được chút nữa thì có an lạc không? An lạc được bao lâu? Có ai ngồi an lạc hoặc trú tâm được hai ba tiếng không? Cứ nói đi - tui biết chừng nào tui nói chừng nấy - tui muốn hỏi về thiền định của bà con cô bác đó!

Rồi tuần tự người này kể rồi kẻ khác kể. Ông thấy rõ là chưa đâu vào đâu cả, chưa ai có cái gì cả, chỉ có được vài ba cái phỉ (pīti) chung chung.

Thế là ông phải giảng cái lộ trình thiền định, rất cặn kẽ, rất chi tiết cho hội chúng cư sĩ nghe. Để khuyến khích mọi người, ông kể cái hạnh phúc khi an trú được hai tiếng, ba tiếng, đôi khi cả đêm. Chưa nói đến những phước báu vi diệu của thiền định, chỉ cái lợi ích trước mắt của nó là tham lam, nóng nảy nó bớt đi; và lúc nào mình cũng trầm tĩnh, ổn định để đối nhân xử thế, xử lý mọi công việc làm ăn mà ít lầm lỗi hoặc không lầm lỗi - như thế nào!

Giảng xong, ông chợt giật mình: “Có khoe pháp bậc cao nhân không đó? Có ngã mạn không? Có tự tin quá không? Có đúng chức năng của mình không?”. Khi tự xét là do mình có tâm với bà con mà thôi - nên ông thở phào, nhẹ nhõm.

Mọi người có vẻ hoan hỷ. Số đông chia tay ra về, chừng 10 người tình nguyện ở lại tu tập nhờ ông hướng dẫn. Thế là chiều tối, ông lên núi, vào hang, đến trưa hôm sau xuống bìa rừng ăn cơm với họ, ở lại ngồi thiền cùng họ, trực tiếp hướng dẫn cho họ.

Thoáng đã gần hết phép, ông và 10 cư sĩ trở về chùa. Thiện nam tín nữ vây quanh lại, một lần nữa, họ yêu cầu ông khảo sát giùm cô tu nữ nói là đã đắc sơ thiền. Ngại ngùng, ông hỏi ý sư cả. Sư cả nói:

- Việc ấy cũng không sao, tôi cho phép. Vả lại, tu Phật, đức tính quan trọng nhất là sự chân thật.

Ông nói:

- Việc này quan trọng đây. Dzậy nhờ sư cả chủ trì. Nhờ ngài mời cho bằng được 4 vị cao tăng, trưởng lão có thẩm quyền về thiền định, giáo điển, Pāḷi - cả vị thiền sư và cô tu nữ. Rồi trước hội chúng - có mặt tất cả chư thiện nam, tín nữ - con sẽ phóng vấn từng câu một. Việc này nên công khai tại bảo điện, có Tam Bảo chứng minh!

Tối hôm ấy, khoảng 20 giờ tối, cuộc “khảo sát” được tiến hành như dự định. Vị sư cả cùng 4 vị trưởng lão đồng chủ trì, bên cạnh là vị thiền sư, nhỏ hạ hơn. Cô tu nữ người Miên chừng 36 tuổi đã có mặt và khoảng vài trăm thiện nam tín nữ tham dự.

Sau vài lời giáo từ của sư cả, ông đảnh lễ chư vị trưởng lão rồi bắt đầu công việc của mình. Ông hướng đến cô tu nữa, mở lời:

- Đây là do yêu cầu của bà con cô bác, bất đắc dĩ tui mới mạn phép hỏi cô vài lời - mong cô bỏ lỗi cho tui. Dzậy chúng ta hỏi hay đáp đều phải được y cứ trên sự thật, vì đạo Phật là đạo như thật.

Mọi người “Sādhu, lành thay!”.

Ông tiếp tục:

- Hôm nay có mặt vị thiền sư - dzậy có phải ngài thiền sư đây đã có tuyên bố cô đắc định sơ thiền? Cô hãy nói sự thật đi! Sự thật như thế nào cô hãy nói như dzậy, không ngại ngùng gì cả.

Cô tu nữ im lặng. Hỏi ba lần một câu mà cô vẫn không trả lời.

Vị thiền sư đỡ lời:

- Có lẽ trước quá đông người nên cô sợ hãi, không dám nói chăng?

Ông tự nghĩ:“Vị thiền sư này nói trật rồi! Dzậy thì đây là chân lý, là sự thật, lợi ích cho nhiều người, ta sẽ không cả nể, không nhân nhượng!”

Ông cứng rắn đáp:

- Chư vị trưởng lão hãy chứng minh sự thật cho! Con sẽ lần lượt đọc ra đây ba đoạn kinh Pāḷi, một đoạn nói về 5 quả báo cho người bố thí, 5 quả báo cho người trì giới, 5 quả báo cho người thiền định...

Rồi ông đọc ba đoạn kinh Pāḷi.

Một vị trưởng lão lắng nghe kỹ rồi gật đầu, xác nhận:

- Tôi hiểu. Ông đọc Pāḷi ba đoạn kinh ấy, phát âm chưa chuẩn xác lắm nhưng mà tôi nghe được. Theo đó, đại khái là đức Phật có dạy rằng, người bố thí có 5 quả báu - mà quả báo thứ ba là không rụt rè, sợ hãi trước bất cứ đám đông, hội chúng nào. Người trì giới cũng có 5 quả báo, mà quả báo thứ ba cũng y như dzậy. Còn người có thiền, có định có quả báo nhiều hơn dzậy nữa - thì không lý gì lại rụt rè, sợ hãi trước đám đông người.

Một vị trưởng lão mỉm cười nhẹ:

- Ngài thiền sư của chúng ta nói sai rồi!

Một vị trưởng lão khác nhìn ông bằng tia mắt ấm áp:

- Ông cư sĩ hoàn toàn nói đúng rồi! Hãy tiếp tục!

Cả hội trường lại vang rân lên “Sādhu, lành thay”,“Đúng rồi! Đúng rồi!”

Thấy cô tu nữ im lặng, ông quay qua vị thiền sư:

- Thưa ngài, con không có cách chi để cô tu nữ phải mở miệng được - dzậy thì phải phiền đến ngài thôi, xin ngài từ bi hỷ xả tha lỗi cho. Câu hỏi của con như thế này: Tại sao ngài nhìn nhận cô tu nữ đắc định sơ thiền?

Vị thiền sư đáp:

- Vì cô trình pháp với tôi.

- Cô đã trình như thế nào, thưa ngài?

- Cô nói cô đắc định sơ thiền.

- Vậy là ngài tin.

- Vâng, tôi tin.

- Thế ngài không hỏi kỹ càng - nhập sơ thiền là nhập như thế nào chăng?

- Tôi không hỏi.

- Kể cả trạng thái tâm, cảnh như thế nào, ngài cũng không hỏi chăng?

- Tôi cũng không hỏi.

Ông cất giọng lớn:

- Ngài thiền sư của chúng ta lại sai một lần nữa rồi. Ví như ngài hỏi một đệ tử rằng: “Con đến chợ Battambamg chưa?” Người đệ tử đáp: “Dạ, con đến rồi”. Thế là ngài tin, lần sau, ngài lại bảo: “Con đến ngôi chợ đó, tìm mua cho ta mấy chục thước vải vàng rồi về ngay nghe!” Người đệ tử lúng túng - vì có đến chợ nhưng chưa biết bên trong chợ - cái hàng vải nằm chỗ nào! Tại sao dzậy? Đến rồi là khác. Đến rồi mà có vào trong chợ không lại khác nữa. Vào trong chợ rồi nhưng hàng rau cải chỗ này, hàng tạp hóa chỗ kia, hàng vải vóc chỗ nọ lại càng khác hơn thế nữa. Cũng tương tợ như dzậy, nhập thiền mà không hỏi trong thiền đó như thế nào - để tin chắc thật sự là có nhập thiền chớ? Ngài sao cả tin quá dzậy!

Vị thiền sư ngồi nín thinh.

Ông cũng chưa chịu buông tha:

- Đi vào cụ thể một chút nữa, là kinh nghiệm của ngài: Định sơ thiền thì có những thiền chi nào phát sanh; rồi thiền chi nào đối trị với triền cái nào?

Vị thiền sư trả lời bằng Pāḷi - 5 thiền chi đối trị 5 triền cái rất rõ ràng. [12]

Ông đáp:

- Ngài thiền sư trả lời đúng, xin chư vị trưởng lão hãy xác nhận cho.

Các ngài gật đầu xác nhận sự thật.

Ông hỏi tiếp:

- Lúc Sukha (an lạc) phát sanh - ta còn biết các đối tượng bên ngoài chăng?

- Sukha nhẹ thì còn biết rõ. Sukha mạnh thì biết mơ hồ.

Ông nói:

- Ngài thiền sư lại đúng nữa - xin chư trưởng lão xác nhận sự thật cho.

Các ngài gật đầu, xác nhận.

Ông hỏi tiếp:

- Khi nhập định, tâm ta như thế nào, còn biết đối tượng bên ngoài chăng?

- Cận hành thì còn biết; vào an chỉ định thì không còn biết gì bên ngoài nữa.

- Ngài thiền sư trả lời đúng - xin chư vị trưởng lão xác nhận cho một lần nữa.

Các ngài lại gật đầu, xác nhận.

Ông hỏi tiếp nữa:

- Nhập định là tâm trú vào một cảnh giới, vậy cảnh giới ấy là ở chỗ nào trong thân, thưa ngài thiền sư?

Thiền sư lại im lặng. Im lặng khá lâu và khuôn mặt có vẻ lúng túng.

Đến đây, ông dõng dạc kết luận:

- Câu hỏi cuối là câu hỏi tối hậu, ai có kinh nghiệm định sơ thiền là vị ấy trả lời được ngay, không ngập ngừng, không do dự. Con xin mạn phép thưa chư vị trưởng lão để xác quyết sự thật này, có Tam Bảo chứng minh: “Là cô tu nữ của chúng ta chưa đắc định sơ thiền, mà thầy của cô, ngài thiền sư - cũng chỉ mới đạt Sukha (an lạc) trong định sơ thiền mà thôi, chưa vào “an chỉ” của định sơ thiền được!”

Chư vị trưởng lão gật đầu.

Cả hội chúng tán thán, hoan nghênh ông không hết lời. Trong lúc đó thì ông lặng lẽ quỳ xuống, đảnh lễ chư vị trưởng lão, rồi quay qua đảnh lễ ngài thiền sư - rồi nói rằng:

- Dẫu đấy là sự thật, nhưng xin ngài hãy xá tội cho con!

Tiếng “Sādhu, lành thay” của hội chúng lại cất lên hoài không dứt.

Khuya đến, ông tự vấn: “Mình có làm cái chi quá đáng không?”. Một hồi rồi ông tự trả lời: “Sự thật thì nên làm dzậy để lợi ích thật sự cho nhiều người!” Sau đó, ông mỉm cười: “Hóa ra, trình bày, kiến giải hoặc tranh luận giáo pháp cũng là một hạnh phúc”. Rồi ông tự cho phép mình được “giải đãi” ngủ một giấc để ngày mai rời Battambang.

Nằm bệnh, duyên cớ để xuất gia,

Bước ra khỏi căn nhà ngũ dục

Trở lại Nam Vang làm việc như cũ, chương trình của ông là thường đến Sùng Phước để giảng pháp và hướng dẫn thiền định cũng như thiền quán cho đạo tràng. Được hơn một năm thì hôm kia, ông thấy mình đau ruột dữ dội, quan sát một lát biết là đau ruột thừa. Dùng định lực trấn giữ cơn đau, ông ghé sở một lát rồi đến ngay bệnh viện.

Khám xong, bác sĩ nói:

- Khúc ruột dư này phải mổ thôi!

Ông gật đầu:

- Đúng dzậy!

- Ông có ngần ngại gì không?

- Không! Dư ruột là phần việc của cơ thể. Mổ cắt khúc ruột ấy là phần việc của bác sĩ. Được hay không được, sống hay chết là phần việc của nghiệp. Tui có can dự chi vào đó được.

Bác sĩ chăm chăm nhìn ông:

- Lần đầu tiên tôi nghe một bệnh nhân phát biểu một câu y hệt một hiền triết Hy Lạp!

Ông cười tủm tỉm:

- Vô ngã của Phật đó mà!

Vào phòng mổ, trước khi bị gây mê ông niệm “Araha, Araha”... sau đó không còn biết gì nữa cả.

Mổ xong, họ mang ông sang phòng dưỡng, đến khoảng 15 giờ chiều ông mới tỉnh, mới tỉnh với hơi thở ra - đi liền với câu niệm “Araha”! Tuy nhiên, mắt ông thấy lờ mờ mà tai thì nghe mơ hồ. Lát sau, ông thấy sáng dần dần rồi thấp thoáng hai ba bóng người cùng lời hỏi đáp:

- Thôi, ông tỉnh rồi đó.

- Ổng nói cái chi dzậy?

- Ổng nói Arahaṃ, Arahaṃ gì đó!

- Ờ, ổng niệm Phật!

Rồi họ đi ra.

Mắt và tai ông, lát sau, thấy khá hơn một tí. Ông thấy lờ mờ hai người y tá - một cô và một thầy - quan sát ông rồi một người nói:

- Thôi, không có sao đâu, an toàn, mạnh khỏe rồi!

Lát sau, cô Diệu dẫn bà bước vào. Bà khóc và than trách ông đủ điều:

- Sao đi mổ mà không cho tui hay? Cũng chẳng thèm báo với ai trong nhà một tiếng nữa! Người chi mà vô tâm, vô tình, người chi mà coi cái mạng sống như trò chơi!

Ông phì cười, cất giọng khàn khàn:

- Cái đau mình không làm chủ được, cái mạng sống mình lại càng không làm chủ được - bà không biết ha?

Bà lại nói lẫy:

- Tui không biết. Tui không biết chi ba cái cao siêu đó!

Ông cười nhẹ, dàn hòa:

- Dzậy là bà biết rồi đó nghe! Biết mà làm bộ không biết!

Cô Diệu nói:

- Thôi, ba nghỉ đi, nghỉ cho khỏe!

Thấy bớt bớt được mấy hôm, sau đó người phát sinh nóng lạnh. Bác sĩ vào khám, cho biết là vết thương bị làm mủ. Bác sĩ hỏi ý kiến ông:

- Mổ lại thì nguy hiểm. Nếu không mổ lại thì phải kiếm thuốc tốt, khá đắt tiền, có thể uống tiêu mủ được. Ông quyết định đi!

Bạn bè tới thăm, họ hứa kiếm thuốc tốt nhờ quen biết các quan lớn Tây. Bà thân cô Diệu lại khóc lóc, nói bán cả gia tài cũng phải chữa trị cho ông.

Tuần sau nữa thì vết thương lành mủ. Ai cũng bảo là ông có phước báu hộ trì - vì cùng mổ với ông có ba người đều chết cả.

Nửa tháng sau, ông ngồi dậy, nhúc nhích đi lại nhưng dòm ra ngoài cửa sổ thấy mờ mờ. Ông tưởng mắt bị ghèn hoặc bị bụi, lấy khăn ướt lau nhưng vẫn thấy lờ mờ như cũ.

Ông bạn bác sĩ quen nói:

- Kỹ thuật gây mê của các y tá đang còn yếu; ông bị mờ mắt là do lạm thuốc mê đó, nghĩa là thuốc mê quá liều lượng!

Ông cười:

- Cũng không thể trách y tá được! Cái này chúng ta chỉ nên trách “nghiệp” thôi! Nghiệp đưa ta đến sống ở nơi này, làm việc ở nơi này, cùng chánh báo, y báo [13] với mọi tương quan trùng trùng xã hội với con người. Cái bên ngoài ấy không thể thay đổi được. Có thay đổi là thay đổi cách nhìn của mình, thay đổi tâm niệm và tư tưởng của mình thôi.

Ông bạn gật đầu:

- Đạo Phật đã cho ông một thái độ sống lạc quan - từ một hoàn cảnh được xem như bi quan nhất.

Ông muốn gieo cấy cho ông bạn một hạt giống giáo pháp nên mỉm cười:

- Lạc quan thì ở bên này, bi quan thì ở bên kia - nếu nói chính xác, đạo Phật cho tui một cái nhìn như thật, không rơi bên này, không rơi bên kia, tạm gọi là trung đạo dzậy, thưa ông bạn quý mến!

Ông bạn nhăn mày. Cũng nhờ vậy mà sau này, ông bạn đã tìm cách học hỏi, nghiên cứu về đạo Phật một cách nghiêm túc, kỹ càng!

Tháng sau nữa, ông vẫn còn nằm viện - vì bác sĩ cần theo dõi liên tục. Ông cảm nhận rõ ràng rằng, mắt không chỉ mờ mà còn kéo theo cả giảm trí nhớ nữa. Đọc sách trở ngại đã đành mà hành thiền cũng bị ảnh hưởng không tốt. Tuy nhiên, không nản chí, ông vẫn tiếp tục duy trì các thời hành thiền - cuối cùng, dẫu có tiến bộ nhưng vẫn không khắng khít và vào sâu như trước.

Ra viện, ông được phép ở nhà ba tháng để dưỡng bệnh. Các bạn hữu đạo tràng Sùng Phước đến thăm ông liên tục từ ngày này sang ngày khác. Đặc biệt, hôm nọ, hai vị tỳ-khưu Thiện Luật và Huệ Nghiêm đồng đến một lúc. Trông tăng tướng y bát trang nghiêm, đẹp, sáng rỡ của cả hai vị - Ông định ngồi dậy đảnh lễ nhưng họ ngăn lại:

- A-cha cứ nằm nghỉ! Chúng tôi xuất gia trước nhưng vẫn là đàn em của A-cha đó thôi!

Ông chấp tay lên:

- Quý sư đừng nói dzậy mà tui mang tội!

Sau đó, cả hai vị tỳ-khưu tâm sự là đang cố gắng nghiên cứu kinh điển và tu tập cho tốt để sau này phụ giúp với ông một tay trong việc mang giáo pháp về Việt Nam .

Ông lại chấp tay lên lần nữa:

- Sādhu, lành thay! Giấc mơ của chúng ta sắp thành tựu rồi!

Thế là sau đó, ông lại biên thư cho ông Hiểu. Cỡ tháng sau thì nhận được thư hồi âm, ông Hiểu bảo là ông đã rất sung sướng khi nghe những dấu hiệu tốt ban đầu. Ông cũng thông báo là ông đã tìm mua được đất, đã gầy dựng được một ngôi chùa tranh tre nứa lá tại một khu rừng rất đẹp, có những gốc cổ thụ tàn lá im mát suốt ngày, rất thuận lợi cho sinh hoạt đạo tràng... Cuối thư, ông Hiểu nói là có vị tỳ-khưu nào có thể về trước để tiếp nhận chùa chưa? Ở đây rất cần hình bóng của vị sư Nam tông, tam y nhất bát trì bình khất thực!

Thấy nhiệt tình chính đáng của bạn, ông đích thân đi tìm sư Thiện Luật, trình bày nguyện vọng ở quê nhà, mong sư hoan hỷ hồi hương tiếp nhận ngôi chùa đầu tiên của hệ phái Nguyên thủy Việt Nam.

Sư Thiện Luật ngần ngại:

- Về luật thì tôi kha khá, nhưng về trình độ kinh giáo thì tôi đang cần phải học hỏi nhiều!

- Không sao - ông nói - vừa tu vừa học cũng được; cái cần nhất là hình bóng khất thực thanh tịnh ở quê nhà. Dù sao, sư xuất gia cũng đã 5 năm rồi, đã chững chạc rồi! Sư Huệ Nghiêm thì vừa mới xuât gia, chưa tiện. Dần dà, tui sẽ kiếm thêm người về giúp sức!

Thế là sư Thiện Luật nghe xuôi tai, đồng ý về Sài Gòn tiếp nhận chùa Bửu Quang ở Gò Dầu, Thủ Đức. Năm ấy là năm 1939, đã trở thành thời điểm đánh dấu Phật giáo Theravāda từ Campuchia du nhập miền Nam - Việt Nam.

Trong thời gian nghỉ dưỡng, cứ đến cuối tháng là ông vào sở nhận lương. Bắt đầu nhận đồng lương tháng thứ ba là ông đã cảm thấy bất an, khó chịu. Ông bèn nói với chủ sở rằng:

- Không làm gì cả mà cứ đều đều nhận lương như thế này, tâm tui nó không yên.

Ông chánh chủ sở đáp:

- Bộ ông tưởng rằng tiền ấy là tiền của tôi chắc? Cứ ở nhà đi, mạnh khỏe hẳn rồi hãy đi làm. Là công chức của nhà nước tiến bộ, được hưởng theo quy định chế độ nghỉ dưỡng đàng hoàng, ông áy náy mà làm gì!

Đúng là vậy nhưng ông cứ thấy mình không thoải mái, cảm giác như lấy không tiền của nhà nước. Đêm đó, ông viết một lá đơn xin nghỉ việc gởi qua Chánh chủ sở, nhờ Chánh chủ sở đệ trình lên quan Thống Sứ, với lý do mắt mờ, tai kém - thiếu năng lực làm việc. Sáng ngày, cầm lá đơn trên tay, ông đến văn phòng sở.

Các bạn đồng liêu và thuộc hạ cùng hỏi:

- Ông đang nghỉ dưỡng mà, vào đây làm chi?

Ông trình bày lý do rồi kết luận:

- Bởi dzậy, tui định gởi đơn xin nghỉ việc đây.

Họ can, mỗi người nói một câu khác nhau.

- Mình nghỉ theo chế độ mà, mình có ăn cắp tiền của ai đâu.

- Không nên! Đừng quyết định quá vội vã. Môt công việc ổn định, đồng lương lại cao, khi nào hết phép hẳn hay.

- Xem nào, lương của một công nhân trung bình được nhận từ 20 - 30 đồng; còn lương của ông những 300 đồng, chưa kể các kỳ thưởng lễ, tết - nghỉ thì tiếc quá đó nghe!

- Cho dẫu tai kém, mắt mờ đi - nhưng ông đến sở làm việc có trở ngại chi? Nhân viên phụ tá và thuộc hạ của ông đã có khả năng cáng đán mọi việc - ông chỉ ngồi chơi và thỉnh thoàng ký giấy tờ thôi mà!

Thấy anh em nói có lý, ông cầm đơn ra về.

An tâm chỉ được ít hôm, ông cứ đi vào, đi ra, nằm xuống liền ngồi dậy, hành thiền chút ít rồi lại xả - một ý nghĩ khởi sanh trong ông:

- Hay cái chuyện bệnh tật này lại là sứ giả báo hiệu cho ta nghỉ việc để từ đó xuất gia tu học? Tất cả mọi nhân, mọi duyên trên đời này chúng đều xảy ra theo một trình tự hợp lý - chẳng nên nói cái này là tốt, cái kia là xấu. Có cái lại từ tốt ra xấu. Có cái lại từ xấu ra tốt. Nhận đồng lương lớn là tốt chăng? Và thế là vì cái tốt ấy mà ta sẽ làm công chức suốt đời không xuất gia tu học được. Mắt mờ, tai kém là xấu chăng? Và biết đâu, nhờ cái xấu này mà ta xin nghỉ việc, lại được xuất gia tu học? Bạn bè của ta đã mấy người đi trước ta rồi!

Rồi ông tiếp tục suy nghĩ:

- Suốt mười mấy năm trường, ta đã canh cánh bên lòng việc xuất gia - rồi để trọn tâm huyết đời mình cho giáo pháp, cho những người hữu duyên. Việc mang giáo pháp về Việt Nam thì mình và bạn bè cũng đã phân công, phân nhiệm rồi! Mới đây lại đã phát đại nguyện Chánh Đẳng Giác nữa. Đúng dzậy, ta đã giải quyết được bài toán tốt, xấu rồi!

Hôm sau, ông đến bệnh viện xin khám lại mắt và tai. Ông tìm một bác sĩ bạn thân rồi tâm sự ước mơ đời mình cho ông bạn nghe - rồi cất giọng khẩn thiết:

- Dzậy tui cậy nhờ ông, sau khi khám xong, ghi vào hồ sơ bệnh lý cho rằng: “Do thuốc mê quá liều lượng nên bệnh nhân bị ảnh hưởng tai và mắt, ảnh hưởng luôn cả tâm trí - không còn có khả năng làm việc được nữa”. Hãy cố gắng giúp tui với!

Người bạn thể theo nguyện vọng, xác nhận đúng như vậy. Về nhà, ông viết một lá đơn khác, đính kèm hồ sơ bệnh án, không nói với ai, đi thẳng đến sở. Lần này, ông không ghé văn phòng mà đi thẳng lên ông Chánh chủ sở.

Ông chủ sở xem đơn xong, cất giọng bùi ngùi:

- Tôi biết tính ông. Tôi biết cả sự tu hành chân chính của ông nữa! Tôi còn biết vì lương tâm của ông quá trong sạch nên ông mới làm việc này - là sắp xếp chu đáo cái lý do qua hồ sơ bệnh án! Quả thật, nhân viên có tài, của tôi, kể ra cũng còn nhiều - nhưng chỉ tiếc là từ nay, ở đây thiếu vắng một người bạn lành...

Nói xong, ông lắc đầu mấy cái rồi mới ký - rồi còn cẩn thận ghi thêm: “Đề đạt nguyện vọng chánh đáng của đương sự lên quan Thống Sứ - sau khi đã xem xét kỹ hồ sơ bệnh án!” Xong, ông nói:

- Thỏa nguyện vọng rồi đó! Bao giờ thì xuất gia đây? Nhớ mời tôi tham dự với nghe!

Xiết bao cảm động, ông mở lời trân trọng cảm ơn ông Chánh chủ sở rồi từ giã, không quên ghé văn phòng thăm anh em.

Lá đơn được trao cho đứa bé chạy thư, mang đến Phủ Thống Sứ, ngay trong ngày, không chậm trễ.

Về nhà, tâm hồn ông lâng lâng, cảm giác như đã thoát được nợ trần gian. Ông giấu niềm vui trong lòng đợi khi đầy đủ mọi người trong nhà, bên mâm cơm, ông mới nói:

- Tui đã xin được nghỉ việc rồi đó. Từ nay, tui không còn có khả năng làm ra tiền ra bạc nữa. Mọi người hãy ủng hộ cho tui xuất gia. Nhất là bà, bà hãy cho phép tui xuất gia, bà nó nghe!

Cô con gái, tức là cô Diệu, tán thành:

- Ba làm việc cả đời rồi - cũng nên để ba nghỉ ngơi! Vả lại, xuất gia tu học cũng là một ước mơ khôn nguôi của ba đó! Con ủng hộ nguyện vọng chánh đáng của ba!

Bà không chịu:

- Chánh đáng gì mà chánh đáng? Không còn làm ra tiền ra bạc nữa không phải là lý do chánh đáng! Tui không cần tiền bạc của ông - vì tui nguyện sẽ nuôi ông suốt đời! Cái tui cần là bóng dáng của ông trong ngồi nhà này. Tui hứa để ông tự do, tự do đi lại, tự do lên thất, tự do tu bát quan trai - tui không dám cản, nhưng nhất quyết ông phải ở nhà!

Thấy bà “phán” như đinh đóng cột - ông lẳng lặng không nói gì nữa - biện pháp của ông là từ từ, vì ông là người biết chờ đợi.

Thời gian thảnh thơi ở nhà, ông không còn tu hành “kịch liệt” như trước - do bệnh một phần, một phần là vì cánh cửa chánh pháp đã được mở rồi, đã thấy rồi - chỉ còn bước vào nữa thôi, gấp gáp gì! Lúc rảnh, ông chơi đùa một chút với hai đứa con nhỏ nhất, bởi ông quyến luyến chúng nhất - nhưng mà ông tự nghĩ: “Cái sợi giây quyến niệm này, nó có thật đó, nhưng mà chúng mong manh làm sao, chỉ như là một sợi chỉ mành bằng tơ nhện dzậy!”

Tối hôm kia, nằm chiêm bao, thấy tay mình bốc phẩn ăn, trông lại thì thấy mặt hai đứa con nhỏ - bèn nghĩ trong giấc mơ rằng: “Thôi, phẩn của hai đứa nhỏ, mình ăn làm chi?” Bèn quăng vất đi rồi rửa tay sạch sẽ.

Sáng ngày, nghĩ lại, ông suy gẫm: “Khiếp chưa! Hai đứa trẻ ta thương yêu nhất, quyến luyến nhất - điềm triệu báo cho ta điều chi - mà ta lại ăn phẩn của chúng?”

Bị ám ảnh bởi giấc mộng kỳ lạ đó, ông đi tìm gặp sư cả chùa Phước Sơn, kể lại cho ngài nghe.

Ngài cười nói:

- Tốt đó! Dzậy là chí nguyện xuất gia của ông sẽ thành!

- Xin ngài giảng cho nghe?

- Sự yêu thương, quyến luyến chính là phẩn - chính là phẩn có từ hai đứa trẻ mà ông yêu thương, quyến luyến ấy. Nếu ông ăn là “bất đắc” - không xuất gia được! Nếu ông quăng vất thì “khả đắc” - nghĩa là xuất gia được! Thế thôi!

Bất giác, ông rùng mình: “Như vậy, chí nguyện xuất gia của ta nó đã ăn sâu trong tiềm thức - nên trong giấc mộng mà ta còn biết quăng vất phẩn của hai đứa trẻ! May thay!”

Các buổi đạo đàm sau đó, có ngài cả Phước Sơn, mấy vị trưởng lão và có cả các giáo sư - ông ký thác tâm sự:

- Thưa quý ngài! Vấn đề xuất gia mà còn dụ dự, chờ đợi giải quyết việc này, việc kia cho xong - thì tốt hơn, nên hơn - hay không bằng cứ xuất gia tức khắc, mọi việc khác, hẳn bàn sau?

Một vị trưởng lão đã giải thích cho ông:

- Cái tâm của con người, như ông biết đó, nó cứ thay đổi hoài, biến đổi hoài, lúc thế này, mai thế khác - vì vô thường là bản chất của tâm! Vậy, khi một thiện tâm “muốn xuất gia” khởi sanh - thì phải biết nuôi  dưỡng nó, làm cho cái thiện tâm ấy được trưởng dưỡng, lớn mạnh, trở thành tăng thượng tâm! Và tốt nhất là nên xuất gia ngay. Nếu không, đến lúc các duyên bên ngoài xen vào, giả dụ như do ngũ dục chi phối quá mạnh thì thiện tâm xuất gia kia đã trở nên yếu nhược, thua cuộc - khi ấy dẫu muốn xuất gia cũng không còn đủ sức nữa!

Nghe lời chỉ giáo quý báu ấy, trở về, ông nói ngay với cả nhà:

- Xuất gia, chí tui đã quyết rồi đó! Ở trong nhà này, không ai còn cản tui được nữa đâu!

Bà dường như biết ý chí của ông nên chỉ khóc lóc chứ không làm dữ, lát sau, bà nói xuôi:

- Thôi! Xuất gia cũng được - nhưng nên đợi vài năm nữa cho mấy đứa nhỏ chúng lớn khôn một tí nữa, không được hay sao?

Ông nhìn mấy đứa nhỏ lại thấy mình mềm lòng, nhưng ông thắng lướt được ngay:

- Không! Không đợi chờ thêm năm tháng nào nữa cả. Rằm tháng mười, rằm tháng mười tới đây, tui sẽ xuất gia tại chùa Sùng Phước, ngôi chùa đã kiết giới Sīmā, có rất đông cư sĩ quen của tui ở đó! Sư cả Phước Sơn và các vị trưởng lão đã thu xếp cho tui rồi!

Bà lại xuống giọng năn nỉ:

- Đồng ý, tui đồng ý cho ông xuất gia - nhưng ông xem, bốn đứa con lớn thì chưa nên đôi nên đũa, hai đứa nhỏ còn quá bé dại - ông hay chơi giỡn, bế bồng, không có ông thì chúng sẽ ra sao?

Khi bà nói, tâm trí ông tỉnh táo, mắt ông chỉ kém một chút thôi, nhưng ông thấy rõ ràng, linh ảnh hay ảo giác ông cũng không biết nữa, là lửa đâu đó từ những kẽ nứt của nền nhà nó cháy vọt lên - nó táp lên người ông, làm cho ông phải thụt lùi mấy bước. Sau đó không thấy nữa. Ông nghĩ:“Kinh khiếp chưa! Đó là lửa của ngũ dục - từ địa ngục mà nó bốc cháy lên làm cho mắt tai mũi lưỡi thân ý của chúng sanh sẽ bị bốc cháy theo! Rồi sắc thanh hương vị xúc pháp gì cũng bốc cháy cả. Cả thế gian đều bốc cháy! Không thể ở mãi, do dự mãi trong căn nhà ngũ dục thế gian này nữa!”.Ông đứng trân như thế một lúc lâu, nghe tiếng bà khóc nức nở, ông quay lại - thì lửa lại từ những kẽ nứt nơi nền nhà phọt lên một lần nữa... Ông biết, thế là không thể chần chừ được, phải cắt đứt tất thảy mọi quyến niệm!

Tại chùa Sùng Phước, ngày 19 tháng 7 năm 1940 - bạn bè đạo tràng vui mừng tổ chức lễ xuất gia tỳ-khưu cho ông Phạm Văn Tông, pháp danh là Bửu Chơn. Và gần ba tháng sau, vào ngày 15 tháng 10 năm 1940, ông đã được chính thức xuất gia tỳ-khưu, pháp danh là Hộ Tông - thầy thế độ là Phó Vua Sãi Honahim cùng rất đông hàng trưởng lão chứng minh; và có khoảng chừng mấy trăm thiện nam tín nữ tham dự. Năm ấy ông 47 tuổi.

Và cũng bắt đầu từ đây, con đường tu học của vị tân tỳ-khưu luôn luôn được các bậc cao tăng đức độ chỉ giáo; đặc biệt nhất là được kề cận học hỏi với chính Đức Vua Sãi. Hạnh nguyện canh cánh bên lòng, là mang giáo pháp chân truyền về Việt Nam - lộ trình thế là bắt đầu được mở ra... Các vị tỳ-khưu lần lượt thay nhau về Bửu Quang hoằng pháp, trước là tỳ-khưu Thiện Luật, sau đó là  tỳ-khưu Huệ Nghiêm, tỳ-khưu Bửu Chơn và tỳ-khưu Hộ Tông. [14] Ngài mặc dầu hạ lạp nhỏ hơn - nhưng tự trong thâm tâm cả ba vị tỳ-khưu đi trước, ngài vẫn là vị anh cả đầu đàn về nhiều phương diện!

Ôi! Cuộc đời tại gia cư sĩ của ông, quả thật là tấm gương sáng vằng vặc, xứng đáng sau này trở thành Sơ Tổ Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam. Giả dụ, nếu hỏi ngược lại, không có ông, không biết Phật giáo Theravāda trên đất nước này như thế nào?

Hư vô nó biết câu trả lời ấy!

(Còn tiếp - Cuộc Đời Xuất Gia Của Ngài)


[1] Tương đương Tiểu học bây giờ, nhưng trình độ vững chắc hơn nhiều, có thể đi làm việc với đồng lương đủ sống.

[2] Tương đương Trung học đệ nhất cấp - nhưng trình độ giỏi hơn nhiều - có thể đi làm thầy ký, thầy thông, thầy phán cho Nhà nước bảo hộ, thuộc giai cấp trung lưu trong xã hội.

[3] Thói quen khiêm tốn, bình dân từ nhỏ - sau này ngài cũng chỉ hay xưng “tui” chứ không phải “ tôi”!

[4]  Tức là vậy - giọng miền Nam .

[5] Nghĩa: Bỏ chạy là thượng sách.

[6] Bắt đầu từ đây - người ta kính trọng gọi ông là A-cha ( phát xuất từ từ Pāi Ācariya: A-xà-lê, giáo thọ sư)

[7] Tức là Ngô Bảo Hộ - thế danh của ngài Thiện Luật - xuất gia Sa-di năm 1934, Tỳ-khưu năm 1937.

[8] Tức là Hồ Văn Viên - thế danh của ngài Huệ Nghiêm - xuất gia tỳ-khưu năm 1938.

[9] Tức là Phạm Văn Tông - thế danh của ngài Bửu Chơn - xuất gia tỳ-khưu ngày 19/7 năm 1940.

[10] Thuở đó, một cắc bạc, thêm vài xu nữa đủ mua thịt, rau cải, gia vị làm thực phẩm cúng dường cho 10 vị  sư. Một đồng có 10 cắc - hơn 01 đồng đã có khả năng đặt bát 100 vị. Ông đưa một lúc cả 16 đồng là tính luôn thức ăn cho cả 500 thiện nam tín nữ ông mời! Vậy, 16 đồng là cả một số tiền lớn!

[11] Chữ Phúc - chỉ người miền Nam mới đọc Phước.

[12] Tầm (vitakka) đối trị hôn trầm, thụy miên (thīnamiddha); Tứ (vicāra) đối trị nghi (vicikicchā); Phỉ (pīti) đối trị sân (vyāpāda); Lạc (sukha) đối trị trạo hối (uddhacca-kukkucca); Nhất tâm (ekaggatā) đối trị dục lạc (kāmachanda).

[13] Chánh báo: Nghiệp tạo nên nhân thân toàn hảo hay bất toàn (ngũ quan, trí ngu, đẹp xấu). Y báo: Nghiệp nương nhờ nơi chánh báo, dựa nơi chánh báo mà có như hoàn cảnh gia đình, dòng tộc, xứ sở cùng tất thảy mọi tương quan trong đời sống của người ấy.

[14] 7 năm sau, 1947, ngài Giới Nghiêm cũng xuất gia tỳ-khưu tại đây, và sau này lại có thêm một ngôi sao sáng trong phái đoàn truyền giáo nữa.

Chia sẻ: facebooktwittergoogle