Cao Huy Thuần
Cách
đây đúng 50 năm, đêm rằm
tháng tư Phật Đản 1963, Phật tử cũng tụ tập
ở chính công viên này. Bên
phải (trái ?) của
tôi là một
ngôi nhà rất
đẹp, lúc đó là trụ sở của Đài phát thanh. Bây giờ
Đài phát thanh không còn nữa,
nhưng trên
đầu của chúng ta, trăng rằm hôm đó vẫn là trăng rằm hôm nay, và trăng
ấy đã chứng kiến một cảnh hãi
hùng.
Dưới ánh sáng hiền từ của
trăng đầu hạ, quần chúng Phật tử nô nức kéo nhau về đây để nghe phát lại đại lễ
Phật Đản hồi sáng tại chùa Từ Đàm. Sáng ở Từ Đàm, tối trước Đài phát thanh, đó
là thông lệ của Phật tử Huế mỗi rằm tháng tư. Nhưng rằm tháng tư năm ấy không giống mọi năm. Buổi sáng ở Từ
Đàm, Phật tử đã nghe Thầy Trí Quang phản đối lệnh cấm treo cờ Phật giáo của
chính quyền ông Diệm. Cấm treo cờ là hành động miệt thị cuối
cùng của một đại chính sách nhằm triệt hạ Phật giáo như là một tôn giáo muôn đời
của dân tộc.
Cấm treo cờ là giọt nước mắt làm tràn ly nước mắt nhẫn nhục mà
Phật giáo đã chịu đựng trong suốt chín năm. Giọt nước mắt ấy đã ứa ra từ
hồi sáng ở Từ Đàm trong lời hiệu triệu của vị lãnh đạo. Chính
giọt nước mắt ấy đã thúc đẩy thêm bước chân nô nức của Phật tử kéo nhau tụ tập
trước Đài phát thanh này.

Nhưng
Phật tử không phải kéo nhau đến đó để khóc.
Phật tử có cách khóc của Phật tử trong suốt chín năm, thầm lặng nhưng hùng
vĩ. Hùng vĩ để phản đối. Nhưng hùng
vĩ để phản đối trong tinh thần bất bạo động, như lời hiệu triệu hồi sáng
ở Từ Đàm. Tinh thần đó giúp Phật tử giữ được không khí lễ hội
hàng năm.
Phật tử khóc, mà vẫn tươi cười, vì hôm đó là Phật Đản, là một
ngày vui, là một lễ hội. Già, trẻ, lớn , bé,
quần chúng kéo nhau đến Đài phát thanh như đi hội. Trong lòng
Phật tử là nước mắt, nhưng trong lòng Phật tử đêm đó không hừng hực lửa bạo động. Đó là điều quan trọng nhất mà chúng ta phải nhắc lại ở đây, vì đó là
tinh thần, vì đó là hình ảnh tiêu biểu của suốt mùa tranh đấu.
Trong
không khí một lễ hội hòa lẫn vui tươi và khắc khoải như vậy, quần chúng nóng
lòng chờ đợi một buổi phát thanh không đến. Loa phát
thanh càng câm, quần chúng kéo đến càng đông, vì ở nhà họ chỉ nghe quân nhạc bất
thường phát ra từ máy. Đêm hè rất nóng, và công viên
nóng chật hơi người. Nóng đến nỗi khi xe xịt
nước kéo đến để buộc quần chúng giải tán, nước ấy cũng chỉ vừa đủ mát để tắm,
không ai nghĩ rằng sau nước là máu. Và sau nước là máu. Xe thiết giáp kéo đến.
Năm chiếc! Năm chiếc bao vây khuôn viên bé nhỏ này. Năm chiếc
dàn ra như đi đánh trận. Và súng nổ. Súng bắn bừa vào
đám đông.
Và lạ thay, bảy thi thể nát thây trong máu là bảy em bé áo lam khi nãy vừa vô tư
ríu rít chuyện trò với nhau để chờ nghe chuông mõ. Bảy em bé đi lễ hội đêm rằm
với vầng trăng ở trên đầu và ngây thơ trên trán. Phải cần năm chiếc
xe bọc sắt để bắn nát bảy em bé áo lam. Không có hình
ảnh nào biểu trưng hơn hình ảnh ấy, hình ảnh của bạo lực với thiên thần. Chết như thế, không phải Phật giáo đâu, chính quần chúng, chính niềm
tin dân dã muôn đời của Việt Nam, đã xem như cái chết của thánh, chết linh
thiêng. Bạo lực đã mở màn tranh đấu Phật giáo bằng cái
chết linh thiêng của thánh, và Huế là đất thiêng đã được lịch sử chọn để nhận
bảy cái chết linh thiêng.
Chúng ta
sống trong thời đại khoa học và có bổn phận phải đào tạo tinh thần khoa học
trong gia đình, trong học đường. Nhưng đêm nay, giữa ánh nến
chung quanh và vầng trăng bí mật trên đầu, vầng trăng
đã chứng kiến tất cả, chúng ta hãy dành một phút cho linh thiêng ấy và hãy chiêm
nghiệm sự lạ xảy ra trong đêm ấy, sự lạ đầu tiên trong nhiều sự lạ đã xảy ra
trong suốt mùa tranh đấu. Hãy tưởng tượng không khí đàn áp trong đêm ấy và chính
sách bóp kín mọi tin tức không để lọt ra khỏi Huế của ông Diệm, ông Thục. Ai dám
nghĩ rằng cuộc thảm sát ở Huế sẽ dội vào tai thế giới? Ngay sau khi nổ súng, xác
các em được tức tốc hốt về nhà xác của bệnh viện, giấu kín trong một xó, không
ai được biết, không ai được nói. Có tiếng nổ trước Đài phát thanh chăng? Cả nước sẽ phải học,
phải nói, phải nghe: đó là lựu đạn của Việt cộng. Nhưng cái màn lưới giăng kín
ấy không che được mắt của một chứng nhân mà bước chân vô tình đã dẫn đến trước
Đài phát thanh, đứng ngay trước họng súng của chiếc thiết giáp mang tên "Ngô
Đình Khôi" Chứng nhân ấy là bác sĩ Wulff, giáo sư y khoa người Đức đang dạy tại
Đại Học Huế. Cho đến đêm rằm tháng tư năm ấy, bác sĩ Wulff chưa hề bước chân đến
chùa Từ Đàm, chưa hề biết gì về Phật giáo, chỉ biết như mọi người rằng chế độ
Diệm là chế độ độc tài, gia đình trị, tôn giáo trị. Đêm Phật Đản, vì tò mò trước
không khí khác lạ trên con đường Lê Lợi, và được sinh viên của mình mời gọi, ông
theo
học trò đến Đài phát thanh, thong dong như một người đi hóng mát đêm hè. Nhưng
thiết giáp ùa đến, và súng nổ ngay trước mặt ông. Kể từ giờ phút đó, bác sĩ Wulff tự khoác lên vai một trách nhiệm mới,
trách nhiệm cao cả của một người nói lên Sự Thật trong một thế giới dối trá.
Ông đi về nhà, nhưng vai trò bác sĩ hối ông tìm đến nhà thương.
Ở nhà thương, người ta nói dối không có ai chết và ông đã đi ra.
Nhưng cái gì đã khiến ông đi vào nhà xác? Ánh mắt của
một người y công. Không có ánh mắt ấy, đố ai thấy được
xác chết. Và bác sĩ Wulff thấy gì?
"Bảy thân người đầy máu me.
Năm cái xác không còn đầu. Bên cạnh cánh
tay của một xác trẻ em không đầu, một con mắt dính vào một ít da đầu và
một khúc xương trán".
Cái gì đã
xúi bác sĩ Wulff đi vào nhà thương? Cái gì đã giúp ông
đi vào nhà xác? Các câu hỏi đó có thể không nên đặt ra
nếu không có thêm câu hỏi này nữa, sự việc này nữa. Từ nhà xác, ông đi
vội đến nhà bạn đồng nghiệp, bác sĩ Krainick, ở gần đấy, trong lúc bà Krainick
đang đọc vào máy ghi âm bức thư thăm hỏi các người con ở Đức. Vội vàng mở cửa và
hốt hoảng nghe kể chuyện vừa xảy ra, bà quên tắt máy ghi âm. Do đó, máy ghi lại
hết lời tường thuật đầu tiên không đầy một giờ sau khi thảm sát xảy ra. Cuốn
băng nhựa ghi âm này đã làm bằng cớ đích xác trước Liên Hiệp Quốc khi xét vấn đề
đàn áp Phật giáo của ông Diệm. Cái gì đã xui khiến bà Krainick quên làm động tác tắt máy, một động
tác tự động?
Vẫn chưa
hết câu hỏi. Ở nhà xác, ông Wulff muốn chụp ảnh các xác
chết nhưng không có máy. Không có hình ảnh, lấy gì làm tin? Vậy mà sáng ngày hôm sau,
trước khi đi lên phi trường Phú Bài để tìm cách thoát ra ngoại quốc làm nhân
chứng, một người bạn xuất hiện, trao cho ông Wulff một cuốn phim với đầy đủ hình ảnh các nạn
nhân. Người bạn đã nhanh tay chụp được ảnh nửa giờ
trước khi cảnh sát cấm vào nhà xác. Không phải là phóng viên nhà báo, cái gì đã
giúp người bạn kia làm được một kỳ công như vậy?
Cái gì,
cái gì, cái gì? Cái gì nữa đây đã giúp ông Wulff đi trót lọt lên máy bay
trước mắt của lưới mật vụ với cuốn phim trong túi? Cái gì giúp
cuốn phim trong túi ông đi trót lọt qua Tân Sơn Nhất để đến Phnom Pênh?
Giả sử không có cuốn phim, giả sử không có băng ghi âm, giả sử ông Wulff không
đứng trước họng súng, giả sử ông Wulff bị bắt, lịch sử đã bị bịt mắt dẫn đi theo
một hướng khác rồi chăng? Sự Thật đã thua Dối Trá rồi chăng?
Có anh ký giả ngoại quốc nào ở Sài Gòn lúc đó ngờ được một thảm sát như vậy đã
xảy ra ở Huế? Nói, có ai tin? Huế có gì lạ để thiên hạ
chú ý đâu, một thành phố hiền lành! Tất cả những sự lạ đó đã
xảy ra và ông Wulff là sự lạ cao quý mà chúng ta hôm nay thành tâm tưởng nhớ. Ông đã dám hy sinh cả tính mạng của ông để hoàn thành một sứ mạng mà
ông tự trao cho ông. Nhưng cái gì, cái gì, cái gì, đã xui ông đến, cái gì
đã giúp ông chui qua được lỗ kim?
Cái ấy, nhiều người sẽ trả
lời: đó là may mắn, đó là tình cờ. Vâng, với đầu óc khoa học, ta cũng muốn giải thích như thế.
Nhưng đó là cách giải thích của người nằm trong gối ấm chăn êm. Bất cứ ai
đã từng lăn lưng vào nguy hiểm, mạng sống chỉ còn treo
trên sợi tóc, mấy ai chẳng có lúc nghĩ đến một cái gì khác vượt qua hiểu biết,
lý luận? Cái gì khác đó là lòng tin.
Lòng tin vững thì bước đi chắc. Bước đi chắc thì may mắn gặp.
Đối với quần chúng Phật tử lúc đó, lòng tin giải thích tất cả, vượt qua tất cả. Hòa Thượng Trí Quang có nói một câu, và câu đó gạt phăng mọi lối
giải thích dựa trên sự tình cờ. Hòa Thượng nói: "Trên đỉnh đầu tôi có
Phật". Nếu không có Phật trên đỉnh đầu, làm sao Hòa Thượng dám
tay không đối mặt với bạo lực? Bao nhiêu lần, cái chết
đã chờn vờn trước mắt, vậy mà Hòa Thượng vẫn vượt qua. Nếu không có Phật
trên đỉnh đầu, làm sao Hòa Thượng không có chút rúng
động trong lòng? Mà một chút run trong hành động là thất bại, là chết. Tin ở ta
và tin ở thiêng liêng là một. May mắn đến từ đó.
Vậy thì, với Phật trên đỉnh
đầu, ta hãy dành một phút cho lòng tin vào thiêng liêng, nhất là trong đêm tưởng
niệm này. Đối với Phật tử, không có cái chết nào là chết hẳn, cái chết nào
cũng được tiếp nối bằng sự sống, nhất là những cái chết linh thiêng. Cái
mà người khác gọi là may mắn, gọi là tình cờ, ta gọi là phù hộ.
Cái mà người khác gọi là chết, ta gọi là sống. Sự sống đó đi
theo hành động của ta. Sự sống đó cho ta niềm tin. Sự
sống đó phù hộ cho ta. Chính sự sống linh thiêng đó đã
đem bác sĩ Wulff đến với chúng ta. Các em bé chết, nhưng các Thánh tử đạo
sống. Sống để đặt đức Phật lên đỉnh đầu của bác sĩ Wulff, đưa
ông đến với Sự Thật, dẫn ông vượt qua mọi nguy hiểm.
Đêm nay, chúng ta hãy chiêm nghiệm sự sống linh thiêng đó để tiếp tục dõng mãnh
bước đi trên đường của chúng ta. Chúng ta càng dõng mãnh khi lòng tin đó
càng vững chắc. Phải tin rằng mỗi bước đi của ta đều có sự phù hộ. Tin như vậy thì không có gì phải sợ. Suốt mùa tranh đấu, lòng tin ấy dẫn đầu. Suốt mùa tranh đấu,
Phật giáo chỉ đọc và chỉ áp dụng một câu kinh: "Vì tâm không vướng ngại nên
không hề khiếp sợ, vượt hết thảy khổ ách". Ông Wulff chưa bao giờ là Phật tử, nhưng với chúng ta, ông đã là
Phật tử vì trên đỉnh đầu của ông có câu kinh ấy.
Lịch sử
Phật giáo 1963 để lại cho cả thế giới thêm một bài học nữa về lòng tin đó.
Đừng sợ! Vì ta có lòng tin, vì ta có phù hộ. Nhưng vô úy của
Phật giáo cũng bắt nguồn từ chữ "tâm" nói trên. Tâm
không vướng ngại, vì đây là tâm của từ bi. Hãy ghét cái ác mà tranh đấu, đừng ghét con người, vì trong mỗi
người đều có Phật. Chính vì thấy Phật cả trong đối thủ của mình nên mình mới có
được cả cái tâm vô úy. Ấy là lý thuyết suông chăng?
Không, phải có một Phật Đản 63 để thế giới thấy rằng ngọn lửa Quảng Đức là thể
hiện của lý thuyết ấy. Không có biểu tượng nào oai hùng hơn về sự kết hợp
của hai đức tính biểu trưng của Phật giáo: vô úy và từ bi. Cái này có thì cái
kia có; cái này là động lực của cái kia. Sau thánh
Gandhi, thế giới hiểu thêm thế nào là tranh đấu bất bạo động ở Việt Nam.
Gandhi đã lấy tuyệt thực và tính mạng để thức tỉnh cái ác của
đế quốc, để động viên dân tộc. Phật giáo Việt Nam đã lấy cái chết, lấy ngọn lửa để thức tỉnh cái ác
của độc tôn tôn giáo, để bảo vệ chính nghĩa. Cả hai đều không có khí giới
nào ngoài hơi thở của chính mình và một lòng tin không gì lay chuyển. Đêm nay, chúng ta hãy chiêm nghiệm thêm sự lạ
này, sự lạ tột cùng của mọi sự lạ trong lịch sử: cái gì đã làm cho trái
tim bồ tát không cháy? Để lại một trái tim cho
thế giới đầy hận thù này, đố ai tìm được một biểu tượng có ý nghĩa hơn về đức từ
bi. Báu vật này, đáng lẽ cả thế giới phải cung nghinh.
Nhưng may mắn thay cho lịch
sử 63, cũng là lịch sử của Huế, cũng là lịch sử của đất nước, chúng ta có một đài thánh tử đạo, mà thành phố Huế tôn vinh,
để kỷ niệm cái chết linh thiêng đã mở màn cho cuộc tranh đấu bất bạo động. Cái
chết của bảy em bé không làm chấn động thế giới như cái chết của bồ tát Quảng
Đức. Nhưng thế giới hãy đến đây, đứng trước Đài kỷ niệm đơn sơ này, và ngẫm nghĩ
cho kỹ một hàng chữ không khắc trên Đài mà khắc trong lòng người, bất cứ người
nào đứng trước Đài, bất cứ quốc gia nào, bất cứ thời đại nào, bất cứ văn minh
nào: "Bạo lực nào cũng thất bại, Sự Thật và Từ Bi là bậc chiến thắng muôn đời ".
Đó là ý
nghĩa của Phật Đản 63.
Theo Lieuquanonline