Tâm Nhiên
Có những con người đến rồi
đi qua mặt đất trần gian này như một cơn sấm sét, gây chấn động kinh hồn, làm
bùng vỡ một điều chi kỳ tuyệt, tinh khôi trên bầu trời tâm thức nhân loại, Phạm
Công Thiện là một con người độc đáo như vậy.
“Anh đã
ra đi từ đó, từ thời buổi hỗn mang.
Trong từng khoảnh khắc sát na, từng quãng liên tục vi
tế của hạt bụi, anh từ chối chính mình. Khi mọi người ca tụng anh như một thiên
tài, anh vất bỏ thần tượng để đi như một tên lãng tử vô lại…Người lữ hành bước
đi, từng con sóng của đại dương cuốn theo xóa sạch từng
dấu chân đi. Lưu lại trong khách ảo ảnh tiền thân, phảng phất mùi hương và sắc
màu quá khứ không phai nhạt.”* Tuệ Sỹ giới thiệu như thế về Phạm Công Thiện, một
tâm hồn hạo nhiên chi khí, một thi sĩ thượng thừa đã khơi nguồn mạch sáng tạo
trào dâng ngất ngưởng, mở ra thể điệu phiêu bồng trên cung bậc văn chương, thiền
học, triết lý, thi ca bát ngát dị thường. Bước đi một mình một bóng, đơn thân
độc mã quá đỗi phong trần gần 50 năm trời nay, say gót mộng chuếnh choáng lang
bạt kỳ hồ, lang thang lêu lổng suốt muôn chiều phiêu lưu, phiêu lãng ngàn phương.
Lướt cánh đại bàng, tung hoành ngang dọc khắp năm châu
bốn biển, thênh thang giữa thiên địa hoàn cầu.
Vào một chiều tháng 6, bắt
đầu mùa hạ năm 1941, Phạm Công Thiện ra đời bên dòng sông thơ mộng Cửu Long, một
dòng sông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng ngút ngàn chảy xuống dọc ven bờ phố
thị Mỹ Tho, một thị xã nhỏ nhắn, lặng lẽ hiền hòa ở miền Nam. Thi sĩ lớn lên từ
đó, suốt ngày đêm cứ mặc sức mơ mộng rong chơi, tha hồ tắm sông lội nước, nằm
ngắm mây trời bay lãng đãng xa xôi.
Rồi bất thình lình, đột
ngột một hôm vụt đứng dậy, xuất hiện trên văn đàn Việt Nam như một thần đồng
biết nhiều thứ tiếng, một thiên tài lỗi lạc : Năm 1957, mới 16 tuổi đã xuất bản
Tự điển Anh ngữ tinh âm, 19, 20 tuổi viết Ý thức mới trong văn nghệ và triết học,
23 tuổi, viết Tiểu luận Bồ Đề Đạt Ma, 25, 26, 27 tuổi, viết Hố thẳm tư tưởng, Im
lặng hố thẳm, Ý thức bùng vỡ, Bay đi những cơn mưa phùn, Trời tháng tư, Ngày
sinh của rắn, Mặt trời không bao giờ có thực, Nikos Kazantzaki, Rainer Maria
Rilke, Henry Miller và dịch thuật những tác giả vĩ đại Krishnamurti, Nietzsche,
Heidegger… làm chấn động toàn thể giới văn nghệ sĩ trí thức thời bấy giờ.
Thuở ấy, năm 1967, khi
Phạm Công Thiện làm Khoa trưởng Văn khoa Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, đúng lúc 26
tuổi thì Tuệ Sỹ, Bùi Giáng cũng có mặt ở đó thường xuyên, là những cây bút cốt
cán, nền móng trong tạp chí Tư Tưởng, tiếng nói của Viện Đại học Vạn Hạnh.
Trước đó, nhà thơ cũng đã
từng làm những chuyến giang hồ tứ chiếng, xách túi thơ bầu rượu ngao du sơn thủy
qua Paris, London, New York, Washington rồi, từng diện kiến, sống gần gũi với
những nhân vật kiệt xuất lừng lẫy trên thế giới như Krishnamurti ở Paris, Henry
Miller ở Los Angles.
Đang là thần tượng của đám
sinh viên các đại học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt thì đùng một cái, Phạm Công Thiện bỏ
ngang chức Khoa trưởng Văn khoa Đại học Vạn Hạnh, lên đường viễn phương hành,
làm cuộc ra đi theo quẻ Lữ trong Kinh Dịch, lênh đênh qua tận bên kia bờ đại
dương tuyệt mù tăm tích vào năm 29 tuổi, tức năm 1970. Đó cũng
là năm cuộc chiến tranh Việt Nam đến độ khốc liệt, kinh hoàng, khủng khiếp nhất.
trên khắp hai miền Nam Bắc
tang thương.
Cất cánh phụng hoàng, thi
sĩ bay vút đi xuyên qua gầm trời giông tố bão loạn, đang đắm chìm giữa dòng sử
lịch hỗn mang, tang tóc cuồng phong gầm thét dữ dằn, tan hoang tàn bạo, xô đổ
xuống mịt mù âm u hỗn độn, vây khổn đầy bóng tối vô minh trong đêm dài điêu
linh, trầm thống, đoạn trường.
Trước ngày khởi hành, ngồi
trên đồi cao chùa Hải Đức Nha Trang, thi nhân lắng hồn cô đơn, tịch mịch để nghe
vọng về bao nỗi đời ly tán, đớn đau, bàng hoàng trong rưng rưng nhức nhối :
Hồi chuông chùa vọng luân
hồi
Chim chiền chiện hót ngang
trời đau thương
Trùng dương nằm đợi vô
thường
Đồi cao bạt gió hai đường
âm u
Âm u hai
đường, đông tây đôi ngã thê lương. Còn chi đâu mà nói
nữa. Thôi thì cánh chim ngàn cứ tung
bay cho hết bầu trời tính phận bao la của mình. “Bổn phận của mi là lên đường đi đến hố thẳm, một cách im lặng, rộng
lượng và không hy vọng.” Văn hào Nikos Kazantzakis đã nói như vậy, cũng
như triết gia vĩ đại Heidegger làm những câu thơ như âm thầm khích lệ thi sĩ lên
đường :
“Bước tới và chịu đựng
Sự thất bại và câu hỏi
Trung
thành với lối đi duy nhất của mi.”
Thi sĩ Phạm Công Thiện đã
cảm nhận chân thiết lời thơ đó, nên hùng tâm tráng khí, im lặng thực hiện một
cách mãnh liệt cuộc lữ phi thường, khởi sự tấu khúc độc hành ca trên lộ trình
hướng về hố thẳm uyên mặc, uyên nguyên. Cuộc lữ dữ dội bi tráng, mở ra những
phương trời hoằng viễn như Rimbaud, Hoelderlin, như Nietzsche, Henry Miller,
những đồng thanh tương ứng với thi nhân nên luôn luôn xuất thần, ngất trời túy
lúy, phóng cuồng phiêu đãng hoan say. Đó là những cuộc đi vô định, vô sở trú,
chất ngất trên tuyệt đỉnh núi cao và hun hút tận nguồn sâu hố thẳm tâm linh, vừa
bừng bừng thần khí rực ngời lửa tim hồn cháy, vừa ầm ầm
cuồng nộ, trào tuôn lai láng như sóng vỗ đại dương. Cháy và chảy, cháy và chảy
mãi trong hồn, như một lần đặc biệt, nhà thơ đã từng nhắn gởi cho giới trẻ thanh
niên Việt Nam : “Gởi một người đọc không quen, cùng
cháy một thứ lửa thiêng như tôi, cùng được nuôi bằng một thứ nước điên nào đó
chảy trôi như tôi, cùng sống như tôi đang sống : Cháy và chảy, cháy và chảy
không ngừng…”**
Hừng hực ngọn lửa thiêng
suốt ngày đêm bừng cháy trong trái
tim nên chàng thi sĩ đã hào hứng lên đường ra đi từ dạo
đó, từ thuở nào vô thường dâu bể loạn mù xa,
giã từ hồng nhan, bái biệt nàng thơ huyền
mộng cũ trong ngậm ngùi chia phôi :
Đã đi thì đã đi rồi
Thượng phương trùng điệp
thấy gì nữa đâu
Hạ phương ngày tháng bể
dâu
Sắt son tình cũ phượng cầu
túy hương
Có còn chi nữa mà thương
Buổi trưa nằm ngủ thấy
nường năm xưa
Đã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng
đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch trùng
khơi phong kiều
Chuyển hình trên đỉnh cô
liêu
Lửa bay thành ngọn hồng
điều mật ngôn
Đại Huyền biến ngưỡng
triêu tôn
Tiền thân Tây Tạng nhập
hồn chiêm bao
Án nga nga nẵng bạch hào
Một luồng sáng rưc chiếu
vào trái tim
Đứng
trên tuyệt đỉnh cô liêu, một chiều hoang vu nọ, nhà thơ bỗng nghe văng vẳng
những lời ẩn ngữ mật ngôn huyền bí và chợt thấy thấp thoáng tiền kiếp mình ở tận
xứ miền tuyết trắng Tây Tạng hoang sơ. Biết mình là hành giả Mật tông trong
các dãy hang động trên tuyệt mù Hy Mã Lạp Sơn, nên trái tim Bát nhã ứng hiện
những nàng tiên huyền diệu, dạo khúc cung đàn mười tám tiếng lòng Không Định
rung ngân, khiến cho thi sĩ chỉ còn biết đọc thần chú lim dim :
Năm nàng thiên nữ tôn
nghiêm
Trùng quan ngũ sắc ứng điềm tán không
Án đa la tịch mịch hồng
Mười phương xuất hiện
những đồng sinh thiên
Bát nhã là gái thiên tiên
Khoan
thai
cởi áo mây hiền trên cao
Gió lùa thơm tóc tơ đào
Thập bát Không Định tiêu
dao tiếng đàn
Trời mưa chim ngủ trên
ngàn
Sắc son tình cũ nước tràn
sang sông
Tiếng đàn tiêu dao vô
thanh mà vang ngân bất tận lan dài theo cuộc lữ kỳ
cùng, rung hồn rúng chuyển gió sương ngàn khắp vùng thung lũng sơn khê. Ơi
chao ! Một đóa hồng hoa vut trổ im lìm như những nàng tiên nữ giáng trần
sà nhẹ vào hồn tim, để cho thi nhân xuất thần bay phiêu linh, phiêu hốt trong
bồi hồi rộn rã :
Đã đi rồi đã đi chưa
Sắt son triều ngưỡng tình
xưa hiện về
Phượng cầu
ngũ lĩnh sơn khê
Một bông hồng nở bốn bề
lặng im
Năm nàng tiên đậu vào
tim
Âm nhập dương khởi lim dim
xuất thần
Năm nàng tiên ở đây là ẩn
ngữ ám chỉ cho năm nàng thơ, năm người yêu dấu nhất trong cuộc sống thực tế thường
nhật của thi nhân. Xuất thần nhập cốt, hưng phấn hân hoan rạt rào, vô cùng cảm
hứng là những trạng thái kỳ diệu mà Phạm Công Thiện thỉnh thoảng rơi vào một
cách phiêu diêu tuyệt cùng, như một thời sống bồng tênh trên núi rừng phố hoa Đà
Lạt, một chiều hiu hắt nọ, chàng choáng váng, sững sờ khi bắt gặp Thiền tông
giữa cơn mưa gió bão bùng : “Tôi quỳ xuống lạy lung tung, tôi lạy gió, lạy mưa,
lạy nắng, lạy không khí, lạy cái ghế, lạy cái bàn, lạy vách tường, lạy đóa hoa
trong ly, lạy cái giường. Ồ tôi hạnh phúc, sung sướng, yêu
đời, yêu cả vũ trụ. Cảm tạ hết mọi đau khổ, mọi bất
công, mọi bi kịch, cảm tạ hết, cảm tạ bất tận. Tôi đã
tìm được tất cả những gì đã đánh mất từ mấy ngàn năm nay.”***
Hay một lần nơi
thành phố Garden Grove ở California, trong căn phòng trống trải cô tịch vô vi,
thi nhân cũng nhập diệu, thấy mình hóa thân trùng trùng giữa mười phương pháp
giới vô ngần : “Trong tận cùng sâu thẳm của kiếp người, nó không khác người
khác, nó là tất cả mọi người đang di động trên trái đất, nó là tất cả những định
tinh và hành tinh, nó là con sâu, cái kiến, con bướm, con quạ, trái cam, chiếc
lá. Nó là cơn gió thổi vèo qua kẹt cửa, nó là luồng ánh sáng và đêm tối…Nó là
một cảm giác, một tư tưởng, một ý tưởng và một cử chỉ. Nó là mỗi chữ, mỗi tiếng,
mỗi lời trong tất cả ngôn ngữ loài người…Nó là sự trống không mênh mông của mười
tám cái không tràn trề của Trí tuệ Bát nhã sang sông…Nó là sức mạnh vũ bão của
tất cả năng lực vũ trụ, sự tập trung tư tưởng mãnh liệt nhất của tất cả tư tưởng
nhân loại, tập thành khủng khiếp của tất cả đạo lý và triết lý…Nó là nguyên lý
đồng nhất tối thượng, đồng thời là sự chuyển hóa tối hậu của chính nguyên lý
đồng nhất và bước nhảy tịch liêu vào cõi tịch mịch của một đóa hoa hồng tơi
tả…”****
Rồi một lần kia, nhà thơ
cô đơn, tha thẩn dạo chơi những ngày cận kề cuối năm ở tận góc bể chân trời Ý
Đại Lợi xa xăm bỗng nhập thần mộng thấy đại thi hào Nguyễn Du và Thúy Kiều hiện
về thấp thoáng vi vu :
Năm tàn nằm mớ Nguyễn Du
Kiều trôi đâu mất la phù
dặm khơi
Cuốc kêu bảng lảng tháp
hời
Nhắc tên người cũ rã rời
cuối năm
Trầm tư bên một góc quán
cà phê ở Glebe, trên vùng đồi cao Eanwood, nhìn xuống dòng sông xanh, gần thành
phố Sydney ở tận bên kia bờ Úc Châu, thi nhân chợt nghe ra tiếng ngựa hí, tiếng
đàn vô thanh của Mã Minh và thấy Long Thọ lang thang dưới ánh trăng thái cổ ảo
huyền :
Con ngựa ô lồng lộn Mã
Minh gãy đàn
Long Thọ thở dài nhật
nguyệt lang thang
Rồi lại một chiều phiêu
bồng lãng bạt, rong rêu bên dòng sông Seine bồng bềnh, rực ngời hoa nắng óng ả
mới lạ ở thành phố hoa lệ Paris, thi sĩ bỗng thấy Van Gogh nhập cốt ứng hiện
huyền hòa :
Úm tô rô Van Gogh hiện ra
Úm ba la u linh ma ha
Đất nứt nở ra bầy quạ
trắng
Hồn thiêng Van Gogh nhập
vào ta
Van Gogh là một họa sĩ dị
thường, có một câu nói bất hủ : “Trong cuộc đời và trong cả hội họa cũng vậy, rất có thể
mi bỏ qua không cần Thượng đế, nhưng mi, kẻ khổ đau, mi không thể bỏ qua, không
cần tới một điều cao viễn hơn mi, chính là đời mi : Quyền năng sáng tạo.” Vâng,
sáng tạo là một nghệ thuật tối thượng, là bước đi tuyệt cùng tự giải phóng, tự
giải thoát bản thân khỏi nhà tù do chính mình tự tạo cho mình, như nhà văn xuất
chúng Henry Miller cũng đã từng tuyên bố : “Kẻ sáng tạo
kêu gọi con người trực nhận rằng, tất cả mọi tự do có sẵn trong bản thân rồi.
Rằng con người không cần phải bận tâm lo lắng đến vận mệnh thế giới ( vì đó không phải là vấn đề của hắn ) mà chỉ nên lo giải
quyết vấn đề riêng tư của chính riêng mình, tức là vấn đề giải phóng, giải
thoát, chứ không phải vấn đề nào khác cả.”***
Nhà thơ tài hoa Phạm Công
Thiện của chúng ta, cũng trên tinh thần giải phóng ấy, vẫn quảy túi thơ bầu
rượu, xuôi ngược bước đi nhảy múa trên thông lộ phong quang sáng tạo vô lường.
Hướng về uyên nguyên khơi mở, thở cùng linh khí của nhật nguyệt thiên thu, tái
tạo từng điệu thở, từng ý niệm, nổ tung mọi cố chấp thâm căn cố đế để thể nhập
Tánh Không, xô cửa huyền vi mà bước vào Tâm giới, nơi tuyệt cùng của vạn vật
Nhất như. Bước tự do tự tại, thênh thang giải thoát mọi dính mắc, buộc ràng, chỉ
còn sáng tạo và sáng tạo miên man, dốc hết tinh hoa, tinh túy để tựu thành những
tác phẩm độc đáo vô song :
Từ Đi cho hết một đêm
hoang vu trên mặt đất đến Khơi mạch nguồn thơ thi sĩ Seamus Heaney, từ Một đêm
siêu hình với Hàn Mặc Tử đến Nguyễn Du đại thi hào dân tộc, từ Đối mặt với một
ngàn năm cô đơn của Nietzsche đến Chỉ còn tiếng thơ trên mặt đất, từ Nét đẹp
tinh túy trong sáng của đạo lý Phật giáo đến Làm thế nào để trở thành một bậc Bồ
tát sáng rực khắp bốn phương, từ Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng đến
Trên tất cả đỉnh cao là lặng im…là những bước nhảy thượng đẳng, ngoạn mục, hùng
tráng, phi thường, vượt qua sự chuyển hóa toàn diện của tâm thức đến độ vô sư tự
ngộ, bùng vỡ ra một điều chi như thị đang là, ngay ở đây thôi :
Những gì không vói tới
Thì có sẵn đó rồi
Bao nhiêu danh vọng hời
Vài ba cụm bèo trôi
Ba mươi
năm nằm dài
Một hôm đứng phắt dậy
Bất nhị xòe tầm
tay
Bất ngờ tôi sụp lạy
Từ trống trải nhận thấy
Tự trống trải lắng nghe
Tịch diệt liền tại đây
Xuân dậy giữa trưa hè
Xuân là Nguyên xuân, Tâm
xuân, mùa xuân miên viễn trong lòng người, thi sĩ đã thấy và nghe được như một
phép nhiệm mầu làm biến tan mọi niềm đau sầu khổ :
Hôm nay là hôm nào
Thôi đừng hỏi tại sao
Phép lạ đập vào cửa
Bông súng nở trắng phau
Ngồi im giữa vòng tròn
Thở nhẹ như chim
non
Mộng thân trùm Pháp giới
Bông quỳnh vừa nở trọn
Lắng vào trong cái nghe
Rót vào lòng thật khẽ
Lọt vào trong lặng lẽ
Động tịnh đều dứt nhẹ
Những bài thơ ngắn gọn,
tuy đơn sơ giản dị nhưng đi thẳng vào lòng người một cách tự nhiên, thể hiện cốt
cách đặc thù riêng biệt, hàm dung ý thiền “một là tất cả. tất cả là một” của
tinh thần Hoa nghiêm, nói như Phạm Công Thiện : “Nếu chúng ta xoay chuyển cái
nhìn của chúng ta vào trái tim vũ trụ theo nhịp thở kinh Hoa nghiêm thì tất cả
mọi sự đều dung thông, dung nhiếp, viên dung tự tại vô ngại, thời gian là không
gian, một thời gian là tất cả không gian, một không gian là tất cả không gian,
tất cả thời gian là một không gian, tất cả không gian là một thời gian.”*****
Khi tiềm
ẩn nguyên khí, nội lực thâm hậu thì bậc cao thủ cự phách thường kiệm lời, ít nói
mà linh hoạt, tùy hứng như trẻ thơ, hồn nhiên đùa rỡn, xem cuộc đời như một trò
chơi. Còn kẻ thi sĩ xuất chúng, sáng tạo vô vàn cảnh giới thi ca quá mộng thì
ít nhất cũng sờ đụng tới hố thẳm và đỉnh cao tâm linh của chính mình.
Đỉnh cao và hố thẳm tâm
linh ấy, Phạm Công Thiện đã từng va chạm, giáp mặt trong một bình sinh hy hữu
nào đó, cho nên cả trời thơ đất mộng dạt dào bao nhựa sống thâm trầm nhập vào
trong từng điệu thở tinh khôi :
Lùa nhẹ vào một mối
Đập mạnh một nhát thôi
Tất cả đều bày phơi
Trí tuệ sáng rực ngời
Muốn có được ánh sáng
quang minh trí tuệ rực ngời đó thì chẳng phải chạy tìm đâu xa mà chính ngay nơi
tận đáy lòng mình, chính nơi mình đang cư ngụ, lưu trú, ngay nơi những nghịch
cảnh, thử thách mà mình phải giáp mặt ngày đêm một cách anh dũng, không nao
núng, như nhà thơ từng nhắc nhở : “Chúng ta chỉ thành Phật được, khi chúng ta là
con người ở giữa thị tứ, không có cảnh Bồng lai thiên thai địa đàng nào là thuận
cảnh để ta giải thoát được, chinh tất cả Nghịch cảnh của nơi ta sinh sống mới là
nơi ta tự chuyển hóa tâm thức để nhập vào Tự chứng Thánh trí.”***** Thánh trí đó
là trí tuệ, tuệ giác, là cái bản tâm nguyên sơ thanh tịnh của mình đấy thôi. Khi
thấy rõ tận tường được điều đó thì xem mọi sự ở đời như sống chết, đến đi, hơn
thua, đúng sai, phải trái, giàu nghèo, thành công, thất bại… đều là nhân duyên
giả hợp, chẳng hề sợ hãi, lo âu chuyện còn hay mất :
Thất bại giữa đời này
Chết sáng ngời trên cao
Bông tàn phai cõi đất
Mọc lại giữa trăng sao
Nhảy thẳng vào sự việc
Chẳng có gì đáng tiếc
Sự việc lớn
lao nhất
Là hiện tiền tịch diệt
Thực tại hiện tiền là ngay
đây, bây giờ, ngay trong mỗi phút giây là chứa đầy thiên thu vĩnh cửu, ngay
trong từng hơi thở ra vào là đủ cả nghìn năm :
Bôn ba ngoài vạn dặm
Cũng chỉ một trăng rằm
Bao nhiêu là hố thẳm
Xoáy về nốt ruồi đậm
Hố thẳm
là ẩn ngữ chỉ cho tư tưởng của chúng ta. Chỉ cần một chút tơ tưởng móng lên thôi là cả ba nghìn thế giới, sơn hà
đại địa hay tiên nữ, thục nữ mười phương liền hiển lộ, bừng dậy huy hoàng, rõ
ràng hiện ngay trước mắt tức thì :
Chỉ cần một ý tưởng
Khắp vũ trụ mười phương
Sáng bừng lên vô lượng
Thiên tiên hiện đầu giường
Phải chăng đó là cái thấy
tuệ giác siêu việt của một tâm hồn bao la thông suốt lẽ sâu xa của trùng trùng
duyên khởi Hoa nghiêm pháp giới diệu kỳ :
Mỗi bước chân ra đi
Triệu vũ trụ thiên di
Mỗi chỗ tôi ngồi lại
Sáng bừng lên diệu lý
Chân lý vi diệu đó, thi
nhân bỗng phát hiện chẳng ở đâu xa mà ngay tại đây và bây giờ, ngay giữa phù du
cát bụi giữa vui buồn sướng khổ trong cõi lòng huyền diệu của thức
tâm :
Trăm năm đời hờ hững
Đêm ngày buồn lơ lửng
Linh địa là tại đây
Nơi chỗ tôi đang đứng
Linh địa
là mặt đất thiêng liêng này, nơi thi sĩ đang sống từng phút từng giây đầy trọn
vẹn.
Sống từ đồng bằng sông Cửu Long đến cao nguyên sương mù Đà Lạt, từ Mỹ Tho, Cần
Thơ, Sài Gòn, Nha Trang đến Paris, London, Rome, Monterey Park, Long Beach, Los
Angeles, Houston, Washington… ngút ngàn viễn xứ xa xôi :
Thoắt đi một đời người
Buồn hoài cũng thế thôi
Trăm năm là giây phút
Chưa đi đã tới rồi
Hàng triệu tỷ năm trôi qua
và giờ đây ngưng đọng trong cái đang là, nơi người em thi ca từ vô lượng kiếp
trở về đang mỉm cười nguyên sơ rạng ngời mới lạ :
Mười lăm tỷ năm qua
Từ vạn triệu thiên hà
Bây giờ ta mới tới
Gặp lại em hôm qua
Cuộc trùng phùng kỳ ngộ
thật vô cùng thú vị, tuyệt hảo tân kỳ như một kẻ đốn ngộ vô ngôn vì thấy toàn
thể vũ trụ là chốn đạo tràng đầy đủ chư Phật, Bồ tát, Thần linh đều viên dung
cùng một ngọn ngành thanh tịnh :
Tất cả là đạo tràng thần
linh
Ta ngồi tham ngưỡng cội vô
hình
Thênh thang phù thế làm
chim ó
Bay lượn tháng ngày cõi
lặng thinh
Bay lượn giữa phong quang
trời đất, nhật nguyệt hay thả trôi trên dòng sông Mật tông thấm đẫm tình Mẹ Đại
bi, Đại trí Tãra xanh biếc huyền mộng chan hòa. Cả vũ trụ mênh mông là một tu
viện rồi thì về chùa hay xa chùa cũng trong vòng tay bao dung mở
rộng :
Tãra mười tiếng đại không
Ảo thân nằm giữa dòng sông
Mật thừa
Về chùa một dúm muối dưa
Xa chùa cũng thế : Hứng mưa mỉm cười
Hầu như suốt cuộc đời Phạm
Công Thiện thường gắn bó, thân mật, cận kề với những ngôi chùa ở quê hương cũng
như các ngôi chùa nằm dọc ven đường lang bạt
trên toàn thế giới, chàng ở chùa nhiều hơn
là ở nhà. Mặc dù, mới buổi sáng giảng kinh Kim cang thao thao bất tuyệt trên
thiền đường, rồi buổi chiều thõng tay vào chợ uống rượu ngâm thơ túy lúy cùng bọn văn nghệ sĩ,
giang hồ tứ chiếng đó đây mà phong thái vẫn nhàn nhã, tự tại, tiêu dao. Mỉm cười
buông bỏ nhẹ nhàng để bước đi trầm hùng sư tử, tự do vô sự. Vô sự như “chim hải
hồ bay trắng tháng ngày” bay khắp thiên thanh vĩnh thúy rồi đậu xuống mái hiên
chùa rêu phong tịch mịch, ngồi nhập định du hý tam muội làm thơ kính tặng cõi
thinh không lồng lộng :
Mồng tơi mây ngủ hiên chùa
Dâm bụt rực đỏ hai mùa gặp
nhau
Hơi rừng thơm nức chiêm bao
Đêm thâu nín thở ngó vào
bài thơ
Toàn thể cuộc đời là bài
thơ, sống chết là bài thơ, có không là bài thơ, mộng thực là bài thơ, buồn vui,
sướng khổ là bài thơ, hơn thua, được mất là bài thơ, thành công, thất bại là bài
thơ, gặp gỡ, ly biệt là bài thơ, phiền não, an lạc là bài thơ, khổ đau, hạnh
phúc là bài thơ, chiêm bao mộng mị là bài thơ hay Vô thượng chánh đẳng, chánh
giác cũng đều là thơ thơ hết thảy, thơ ở trong thơ
:
Tượng Phật ở bàn thờ
Dọn dẹp để trống trơ
Tôi vẫn lạy chỗ trống
Chỗ trống thành bài thơ
Chính cuộc đời của Phạm
Công Thiện là một bài thơ quá tuyệt vời bát ngát, quá tuyệt mỹ lý thú, quá tràn
trề mê say, ngợp đầy hào sảng rạt rào vô hạn, đã khơi dậy nguồn cảm hứng dồi
dào, thắp lên ngọn lửa thiêng huy hoàng sáng tạo, bừng cháy bất tận giữa lòng
nhân thế tuyệt trần :
Hứng lúc nào cũng đến
Giờ nào cũng giờ hên
Ngồi thẳng lưng mà viết
Vạn tơ tưởng bồng bềnh
Viết là
sống.
Sống một lần Tự do đầu tiên và cuối cùng như Krishnamurti hay sống Alexis Zorba
Con người chịu chơi như Nikos Kazantzakis hoặc sống Chơi giữa mùa trăng như Hàn
Mặc Tử :
“Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng
phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả
cảm giác của tình yêu.
Tôi đã vui buồn, giận hờn đến gần đứt sự sống.”
Thể điệu sống ấy, thật
giống hệt với thi sĩ Phạm Công Thiện xiết bao !
Thật vậy, chẳng những
giống như Hàn Mặc Tử về phong cách nhập cuộc tha thiết, kiệt tận bình sinh, dốc
hết toàn thể xương xảu máu me vào ly rượu tình yêu nồng say óng ả mà Phạm Công
Thiện còn tương ứng, tương tợ với nhà thơ lãng tử Rimbaud từng trải qua Một mùa
địa ngục bi tráng, bi hùng, với đại thi hào Walt Whitman, chỉ một Lá cỏ cũng đủ
chứa đựng cả vô tận đất trời, với Suzuki Thiền luận, với Padmasambhava Tổ sư Mật
tông Tây Tạng, với Milarepa Con người
siêu việt, với Long Thọ
Trung quán luận, với Heidegger Về thể tính của Chân lý, với Nietzsche,
Zarathustra đã nói như thế trên ngõ về vĩnh cửu, với thi hào Hoelderlin lên
đường Quy hồi cố hương, với Apollinaire, một thi nhân trầm lặng mặn nồng, sống
trọn vẹn hết mình với tình yêu và nhất là với Henry Miller, một tâm hồn thượng
đẳng mà Phạm Công Thiện kính phục, ca tụng hết lòng : “Henry Miller là một trong
vài ba thiên tài nhân loại đã đánh thức dậy thế lưc mãnh liệt nhất của lòng Đại
bi trong ý thức và vô thức của con người trên mặt đất.” Lòng Đại bi là tình
thương, tình yêu vô lượng vô biên có từ buổi sơ khai, nguyên thủy mà Henry
Miller đã thấu thị được hương vị của tình yêu tuyệt vời, diễm kiều, vi diệu đó
và vượt qua, vượt qua bên kia bờ Nhất nguyên tuyệt bích.
Tìnht thương, tình yêu dịu
dàng phát sinh, khởi sự từ những thục nữ, thuyền quyên, từ nàng thơ, tiên nữ,
duyên dáng mỹ miều, yểu điệu ngát hồng nhan :
Càng xa càng mông lung
Tới gần vẫn lạ lùng
Nhắm mắt sao lạ quá
Mở ra ồ không cùng
Linh hồn con gái, phải
chăng là nhiệm huyền thi vị như vậy, khiến cho chàng thi sĩ mơ màng mộng mị
trong từng trận trận chiêm bao ảo dị dập dìu :
Một người nằm thở quạnh
hiu
Mơ mòng thiếu nữ cô liêu
giáng trần
Gió khuya đập cửa bất thần
Giựt mình thức dậy mấy lần
chiêm bao
Có nàng tiên dáng cao cao
Nước da mòng mọng hao hao
bông hường
Cái đêm lành lạnh chiếu
giường
Gió lùa hương lạ bên đường
tạt qua
Đêm qua thương nhớ người
ta
Tối nay tơ tưởng thiên hà
bơ vơ
Tháng ngày tôi nhớ bâng
quơ
Những nàng con gái bao giờ
gặp đâu
Gặp nhau bao giờ chưa hỡi
những sắc nước hương trời, những kỳ hoa dị thảo, những hương đồng cỏ nội khắp
lâm tuyền, biên ải ngoài bến gió bờ sương ở mọi chốn muôn nơi, hỡi Quế Hương,
Thanh Hoài, Phong Sương Trần Thi Loan, Hoàng Thu Uyên… diễm tuyệt một thuở nào
quyến rũ du dương tận xứ miền Liên Chiểu hay ngút ngàn sương khói Đà Lạt quá
mang mang :
Bầy chim bạc má gọi đàn
Thương nhau gặp lại trên
ngàn đỉnh cao
Trở về Đà Lạt ngó đào
Ghé thăm Liên Chiểu thuở
nào yêu nhau
Yêu nhau cảm động dường
nào, xao xuyến, xốn xang, rộn ràng trong tiếng hát liêu
trai của nàng ca sĩ yếu gầy mà thi nhân
hơn một lần say đắm mộng lao đao :
Cô đơn về trắng sương rừng
Anh nghe tiếng hát hoang
đường nửa đêm
Khuya buồn tủi nhục môi em
Mưa run lặng lẽ bên thềm
bơ vơ
Tiếng ru vàng xuống đôi bờ
Hoang vu anh đứng đợi chờ
chim kêu
Tay gầy ôm chặt tình yêu
Anh về phố gục những chiều
hư vô
Đời đi trên những nấm mồ
Đau tim em hát cơ hồ khăn tang
Phố chiều thả bước
lang thang
Như con sông nhỏ mơ màng
biển xanh
Nửa đêm khói đốt đời anh
Yêu em câm lặng khô cành
thu đông
Lời em như một dòng sông
Đôi bờ anh đứng giữa lòng
hoa niên
Mưa chiều nước chảy triền
miên
Một con chim dại lạc miền
hoang lương
Về đâu thương những con
đường
Lê thê phố cũ nghe buồn hè
xưa
Hè xưa
phố cũ tuy buồn mà vẫn có một vẻ đẹp não nùng của thứ tình yêu diêu mang lãng
đãng. Chàng thi sĩ đa tình đa cảm, trót
vương mang nàng thơ gầy guộc có đôi mắt sầu mộng u huyền trên cao nguyên nghi
ngút sương mù bay trắng cả rừng thông, suốt mười năm trời đằng đẵng mộng mơ, nhớ
thương tưởng vọng trong da diết ngậm ngùi :
Mười năm qua gió thổi đồi
tây
Tôi long đong theo bóng chim gầy
Một sớm em về
theo giấc ngủ
Bông trời bay trắng cả
rừng cây
Gió thổi đồi tây hay đồi
đông
Hiu hắt quê hương bến cỏ
hồng
Trong mơ em vẫn còn bên
cửa
Tôi đứng trên đồi mây trổ
bông
Gió thổi đồi
thu qua đồi thông
Mưa hạ ly hương nước ngược
dòng
Tôi đau trong tiếng gà xơ
xác
Một sớm bông hồng nở cửa
đông
Phải chăng đó là cõi mộng
hư ảo tự thuở nào xa ngút ở trên rừng Phi Nôm Đà Lạt hay dưới vùng biển Vạn Giã
Nha Trang. Ơi nhớ một chiều mưa thấp thoáng, chàng
thi sĩ rời bãi biển cát trắng, gõ nhịp
bước đơn hành đi về leo lên sườn đồi cao Hải Đức, bỗng sực thấy cây khế bừng rộ
hoa tim tím bên triền dốc đá hoang thưa :
Mưa chiều thứ bảy tôi về
muộn
Cây khế đồi cao trổ hết
bông
Hoa nở rồi tàn cũng như
những nàng con gái mộng mơ đến rồi đi. Tuy vậy vẫn còn phảng phất những làn
hương tóc mị kỳ cứ ám ảnh chập chùng mãi lung linh :
Tình bay lên nóng trăng
sao
Gió lùa thơm tóc cô nào năm xưa
Đã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng
đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch bỏ đời
biệt tăm
Thầm cảm nhận thấm thía
hương vị mị kỳ của tình yêu tương đối và tuyệt đối, rồi từ đó, thi nhân tự nhiên
như nhiên chuyển dần sang ngạt ngào tuyệt bích tình thương. Tình thương yêu tối
thượng như mây lan tỏa khắp mười phương, chan chứa trộn lẫn trong giọng chim ca
lăng tần già hòa quyện tiếng kêu thanh tao, thánh thót nhập hồn sương khói vô vi
trở thành Bồ đề tâm thâm viễn miên trường :
Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy cúng dường
Lôi bồ đề tâm dậy
Chấn động khắp mười phương
Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy vô lượng
Lôi bồ đề tâm dậy
Địa động cả mười phương
Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy đại dương
Lôi bồ đề tâm dậy
Sấm sét nổ mười phương
Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy vô thường
Lôi bồ đề tâm dậy
Sấm chẻ đứt
kim cương
Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy thiên hương
Bồ đề tâm tăng trưởng
Bông quỳnh nở bất thường
Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy vách tường
Bồ đề tâm quy ngưỡng
Bông trang trổ đầu đường
Khi thi
nhân quỳ xuống, sụp lạy tất cả muôn loài vạn vật, đất trời thiên vạn cổ là lúc
Bồ đề tâm bừng dậy tỏa chiếu hào quang rạng rỡ khắp muôn phương. Bồ đề tâm chính là
Đại bi tâm, có thể làm sụp đổ tất cả mọi ác pháp. Phạm Công Thiện từ bao
giờ đến bây giờ vẫn thường xuyên miên mật hít thở trong bầu khí hậu phong nhiêu
ấy, hơi thở biến thành hành động sụp lạy là đã nhập vào vô ngã, vắng lặng cái
tôi, vắng lặng mọi so đo chân giả, xa lìa mọi giả danh, tham chấp, chỉ còn đương xứ tức chân, hiện bày ngay
cái đang là.
Đang là thì không từ đâu
đến cũng chẳng đi về đâu, dù cuộc lữ bắt đầu khởi sự từ vô lượng kiếp rồi, dù có
đi vòng quanh hết quả địa cầu này thì cũng đẻ thấy lại cái tâm hồn mình, như
Henry Miller nói : “Vì chỉ có một cuộc phiêu lưu vĩ đại thôi, đó là đi vào
bên trong mình và đi vào trong lòng mình thì thời gian,
không gian, ngay đến hành động cũng không quan trọng gì cả.”**** Thì ra là vậy,
thật đơn giản mà độc đáo vô cùng.
Cùng nòi giống, cùng dòng
máu Henry Miller nên Phạm Công Thiện cũng nhiệt liệt, hiên ngang
theo dõi cuộc phiêu lưu thám hiểm vào nội tâm thầm kín, để khai phá ra
những bí mật bên trong thế giới tâm linh sâu thẳm của chính mình. Cuộc lữ tư duy
khủng khiếp từ khi thi sĩ tự nguyện làm lạc đà gánh nặng, băng qua những sa mạc
cát trắng khô hạn, cháy bỏng vết hằn cay đắng, thê lương, vượt qua ngàn cơn bão
lốc khốc liệt, kinh hoàng của nỗi đời dâu bể tan hoang cũng như từng say đắm,
say sưa chén rượu hồng nhan, túy lúy càn khôn bổi hổi, rồi dấn thân làm sư tử
oai phong lẫm liệt, đi đứng một mình, không bè nhóm, không đảng phái, không ý
thức hệ, chỉ gầm rống vang động, làm rung chuyển khắp sông hồ dữ dội, hùng
tráng, uy nghi, khí phách giữa tồn sinh bức bách, xuống biển lên đồi.
Rồi bất ngờ đến kỳ lạ, sư
tử biến thành thằng bé trẻ dại hài nhi với nụ cười tươi
tắn niềm hân hoan thơ ngây, thấy gì cũng rực ngời mới lạ, bằng con mắt trong
veo, trong trẻo trinh nguyên xanh biếc trời thơ đất mộng không tên.
Trên cung bậc ngân vang
ngút ngàn sáng tạo, Phạm Công Thiện cùng tương ứng với triết gia Nietzsche về ba
hóa thân : Lạc đà,. sư
tử và hài nhi. Trước hết tinh thần trở thành lạc đà, chuyên
chở gánh nặng văn hóa, truyền thống… tiêu biểu những giá trị lỗi thời xưa cũ.
Sư tử là chúa tể rừng xanh, tượng trưng cho ý chí, trí tuệ siêu việt, mạnh mẽ
phá hủy tất cả những triết thuyết độc thần, hư vô, duy vật lỗi thời đó, làm sụp
đổ hết thảy mọi thần tượng do con người sợ hãi dựng lên và cuối cùng là hài nhi
hồn nhiên, là biểu tượng cho sự bắt đầu, khởi nguyên hoàn toàn mới mẻ, là một
tiếng cười rỗng rang, một tiếng ừ chấp nhận thiêng liêng.
Hài nhi
xem mọi sự như trò chơi, trò đùa vui vẻ, chẳng có chi phải trầm trọng, nặng nề,
chẳng có gì phải van xin, tôn thờ, sợ hãi. Hài nhi chỉ biết yêu thương múa
hát, hân hoan sáng tạo và sáng tạo thênh
thang.
Thênh thang ca hát như
Trang Tử dạo khúc Tiêu dao du bên bờ sông Dương Tử hay như Milarepa hát ca những
lời thơ siêu thoát trên tuyệt đỉnh Hy Mã Lạp Sơn lạnh rờn tuyết trắng, hoặc như
Beethoven Hòa tấu khúc thứ 9 bất hủ và Phạm Công Thiện cười vang lên như tiếng
gầm sư tử trầm hùng tự tại thong dong :
Anh vụt cười to động đóa
hồng
Dịu dàng em rắc giữa hương
nồng
Anh ngồi chỗm dậy như sư
tử
Vồ chụp bướm ngàn lúc rạng
đông
Khi sư tử mà đùa rỡn, nhảy
múa với chim ngàn hoa bướm là lúc mọi sự đã trở thành một trò chơi của hài nhi
hý lộng, rất mực thuần nhiên thoải mái, thanh thản nhẹ nhàng như thi sĩ tâm sự
khơi vơi về thái độ ứng xử giữa cuộc luân lưu sinh tồn linh động : “Sống, ăn ở
đời một cách khiêm tốn, tầm thường, nhỏ thấp, cung cách, cử chỉ lặng lẽ từ tốn,
nhún nhường, không tìm cách tỏ ra rằng mình là quan trọng đối với con mắt thế
gian, nhưng đằng sau bề ngoài tầm thường đó thì hãy để tâm thức mình bay vút,
vượt lên trên tất cả quyền lục và danh vọng thế gian…
Chấp nhận tất cả những gì
xảy đến đời mình với sự dửng dưng bình thản, mặc kệ giàu hay nghèo, mặc kệ khen
hay chê, không thị phi phân biệt cái này với cái kia như đức hạnh và đồi bại,
vinh quang và nhục nhã, tốt và xấu. Không đau đớn khổ sở và cũng không ân hận những gì đã qua, không sung sướng hớn hở và cũng không
hãnh diện về những gì mình đã thực hiện thành tựu.
Ngó nhìn những quan điểm
xung đột và những phát hiện sinh hoạt đa dạng của chúng sinh với lòng bình thản,
khinh an và tâm thức siêu thoát. Phải hiểu rằng đời là thế và là thể điệu tác động không thể tránh
được của mỗi một sinh thể. Hiểu như thế thì hãy luôn tỉnh thức, thanh thản trầm lặng.
Ngó nhìn nhẹ nhàng xuống cuộc đời như một người đứng trên tột đỉnh núi cao nhất,
nhìn ngó xuống những thung lũng và những ngọn núi nhỏ thấp trải ra dưới chân
mình.”*****
Giữa muôn trùng cuộc lữ,
trên con đường mây trắng bềnh bồng, gió trăng đồng vọng, rung
ngân lên văng vẳng những cung đàn lã lướt dưới gót chân của chàng thi sĩ dị
thường. Bước đăng trình vạn lý du, có đôi lúc cũng dừng gót chân lãng tử lại
nghỉ ngơi một vài quán trọ dọc đường như giảng dạy triết lý, văn chương ở đại
học Toulouse, nước Pháp hay thuyết trình Thiền tông, Mật tông ở các đại học,
thiền viện trên khắp miền viễn xứ California và Hoa Kỳ.
Tiến sĩ Nhật Bản Nohira
Munehiro khi làm luận án tốt nghiệp tiến sĩ, lấy đề tài về triết gia Phạm Công
Thiện, cho biết các nhà học giả uyên thâm xứ hoa Anh Đào đều tôn vinh, ca tụng
Phạm Công Thiện là Long Thọ của Việt Nam.
Từ năm 1966, mới 25 tuổi,
Phạm Công Thiện đã nói về Long Thọ : “Theo Trung quán luận, thì sự nô lệ, sự phiền muộn, đau
khổ, chấp trước…chỉ là vọng tưởng.
Chúng ta bám chặt vào sự
vật, vào ý tưởng, vào con người, vào hoàn cảnh, vào nguyên nhân, vào kết quả,
vào mục đích, vào cứu cánh, vào
phương tiện, vào sống và chết : Chỉ vì vọng tưởng tạo ra những đặc tính và những
hình ảnh mà chúng ta tưởng rằng có thực và bất di dịch…
Con người giải thoát làm
việc thiện, cứu đời, độ thế, không phải để đạt đến kết quả nào ở đời này hay đời
sau. Hành động của con người giải thoát là hành động không mục đích và không lý
do. Lý tưởng Bồ tát thể hiện trong Đại bi là lòng thương không
mục đích, vì còn mục đích là còn trói buộc vào nhân và quả. Trói buộc là nô lệ, là chấp nhân hoặc chấp quả, chấp ngã hoặc chấp
pháp, chấp hữu hoặc chấp không. Hố thẳm chính là phá chấp và phá chấp
triệt để…”******
Tinh thần phá chấp triệt
để ấy, thể hiện nhất quán qua toàn bộ tác phẩm Phạm Công Thiện từ thuở xưa cho
đến bữa nay, nên các học giả Nhật Bản sánh Phạm Công Thiện với Long Thọ cũng là
tương xứng, xác đáng. Đại văn hào Mỹ Henry Miller thì cho
rằng, Phạm Công Thiện là hậu thân của Rimbaud, một thi sĩ tiên tri thấu thị của
nước Pháp. Nhà thơ Giang Trần, nhà thơ Phan Tấn Hải bên Hoa Kỳ thì tôn
vinh, tấn phong Phạm Công Thiện là bậc Bồ tát nghệ sĩ, còn riêng người viết bài
này, đã từng hân hạnh được bắt tay, gặp mặt trò chuyện với Phạm Công Thiện ở Đại
học Vạn Hạnh, vào một chiều mùa hạ năm 1969 thì vẫn xem Phạm Công Thiện là một
thi nhân, một thi sĩ với trọn vẹn ý nghĩa của danh từ.
Chính Phạm Công Thiện cũng
thường mặc nhiên tự nhận mình chỉ là nhà thơ, một thi sĩ thuần túy mà thôi:
“Ngôn ngữ của tôi là ngôn ngữ của thi sĩ, ai muốn hiểu sao đó thì cứ hiểu… Thơ
là linh hồn của tất cả âm nhạc, hình ảnh của thơ là vô hình đột chuyển thành ra
hiện hình và hiện ảnh : Hiện hình và hiện ảnh của thơ
chính là hiện cảnh linh động, hiện thực hơn tất cả những cảnh sắc và phong cảnh
hiện tiền… Thơ không nói về bất cứ cái gì cả, như vậy mới là tất cả.
Thơ chỉ là thơ và thơ tự nói về thơ từ trong thơ đến trong thơ, cả cao và thấp,
cả trong và ngoài, ở trên và dưới mặt đất, tất cả chỉ là thơ.”
Vâng, tất cả chỉ là thơ,
khi thấy muôn sự muôn việc trên cõi đời này chỉ là thơ và thơ thôi thì lúc ấy
mới bừng sáng rực ngời lên chân thực nghĩa vô lượng vô biên của Diệu Tâm thâm
diệu, của Nhất Chân pháp giới, trùng trùng duyên khởi Hoa nghiêm, thấy tất cả
mọi sự đều tốt đẹp và tốt đẹp. Vì thế, cho nên thi nhân vẫn tiếp tục hân hoan
sáng tác, sáng tạo vô ngần bất tuyệt miên man :
Tháng ngày làm thơ chơi
Hồn bay thẳng ra khơi
Bạch phát ngút ngàn tới
Thu phong tắt nghẹn lời
Làm thơ lúc rửa chén
Nước chảy tuôn rỏn rẻn
Bột trắng sạch rêu đen
Bếp nhà rân tiếng én
Xin gọi đại là thơ
Làm lúc nào chẳng nhớ
Cho một cô gái nhỏ
Chưa từng gặp bao giờ
Muốn gì mà có ngay
Thì tai
nạn vạ bay
Không thèm muốn gì nữa
Đời tràn ngập thơ hay
Khi thơ hay bay ngập tràn
mặt đất trần gian, thì ngôn ngữ Việt Nam cũng bay về ngợp trời xanh bát ngát,
làm trang nghiêm cho nụ cười thanh tịnh, quang minh tính thể. Thế là trên ngõ về
im lặng, người thi sĩ kỳ tuyệt của chúng ta đã xuống tận hố thẳm cũng như đã lên
tột đỉnh cao chất ngất của tâm linh và chợt bừng ngộ thấy ra toàn thể trò đời
chỉ là một cuộc đại hòa điệu chơi tối thượng, một trận du hý tam muội lồng lộng,
phiêu bồng. Sống là chơi, chết là chơi, yêu là chơi, thương là chơi, vui buồn,
sướng khổ là chơi, có không, còn mất là chơi, hơn thua, phải trái là chơi, thành
cộng, thất bại là chơi, chiêm bao, mộng mị là chơi, tỉnh thức, thực tế, thực tại
là chơi, phiêu bạt giang hồ khắp thế giới là chơi, giảng dạy triết lý, thi ca,
thiền học là chơi, biết nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali… là
chơi, thương yêu năm nàng tiên nữ là chơi, làm đại đức, thiền sư Nguyên Tánh là
chơi, làm hành giả Mật tông là chơi, làm văn nghệ sĩ là chơi, làm thơ làm thẩn
cũng là chơi chơi hết thảy mà thôi. Ơi chao ! Một cuộc
đại hòa điệu chơi trùng trùng vô thủy vô chung giữa
mênh mông vô tận, bất khả tư nghì…Án ma ni bát di hồng. Án ma
ni bát di hồng. Án ma ni
bát di hồng…
Tâm Nhiên
Thơ Phạm Công Thiện, trích
trong 2 tác phẩm :
Ngày
sinh của rắn. Nhà xuất bản An Tiêm, Sài Gòn 1966
Trên tất
cả đỉnh cao là lặng im. Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn,TP.HCM
2009
* Phạm Công Thiện.
Trên tất cả đỉnh cao là lặng im.
Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn, TP.HCM 2009
** Phạm Công Thiện.
Ý thức mới trong văn nghệ và triết gọc. Tái bản lần thứ
ba. Nhà xuất bản An Tiêm, Sài Gòn 1966
*** Phạm Công Thiện. Henry
Miller. Nhà xuất bản Phạm Hoàng, Sài Gòn 1969
**** Phạm Công Thiện.
Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất. Nhà xuất bản Trần Thi,
California 1988
***** Phạm Công Thiện.
Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng. Nhà xuất bản Phương Đông,
TP.HCM 2008
****** Phạm Công Thiện.
Hố thẳm tư tưởng.
Nhà xuất bản An Tiêm, Sài Gòn 1966