Đóng góp của Triết học Phật giáo Ấn Độ Cổ-Trung đại trong việc giải phóng con người
Lâm Tuệ Lâm
Lịch sử phát triển tư duy của nhân loại như
một dòng chảy bất tận mà ở đó các nhà triết học, các trường phái triết học từ
Đông sang Tây dù có khác nhau về lập trường thế giới quan nhưng đều có một điểm
chung đó là lấy con người làm điểm xuất phát. Hầu như không một triết gia nào
không cố gắng trả lời ít nhất một lần cho câu hỏi: “Con người là gì?” như danh
xưng mà Socrate đã nêu lên rằng: “Con người hãy tự ý thức về bản thân mình”. Với
việc lấy con người làm trung tâm, nhiệm vụ của triết học là đi tìm lời giải cho
những câu hỏi: Con người sinh ra từ đâu? Ý nghĩa cuộc sống của con người là gì?
Con người có vị trí và vai trò như thế nào trong thế giới? Con người phải làm gì
để có cuộc sống xứng đáng với con người? v.v….
Góp phần vào việc giải phóng con người khỏi
những nổi khổ của trần thế, tư tưởng giải phóng con người của triết học Phật
giáo Ấn Độ cổ - trung đại mang màu sắc riêng. Nếu như tư tưởng giải phóng con
người của triết học phương Tây nói chung đều mang tính hướng ngoại, hướng đến
con đường, cách thức, phương pháp giải phóng cụ thể mang tính cách mạng, thì tư
tưởng giải thoát của Phật giáo lại mang tính hướng nội, hướng đến đời sống tâm
linh, tinh thần của con người, mong muốn giải thoát cho con người khỏi cuộc sống
của những khổ đau mà con người phải chịu đựng.
Được xem là một trong những trường phái
triết học lớn của thế giới, triết học Phật giáo ngay từ đầu đã xác lập cho mình
một lý tưởng, mục tiêu xã hội và các giá trị đạo đức nhân sinh để hướng tới việc
xây dựng con người mang những giá trị nhân bản sâu sắc. Giá trị nhân bản đó
chính là mục tiêu xây dựng một xã hội không có chế độ người bóc lột người, trong
xã hội đó không có sự phân biệt về đẳng cấp, tất cả mọi người đều có quyền tự
do, bình đẳng như nhau và có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Luôn mong muốn giải
thoát con người khỏi những nổi khổ của kiếp làm người, triết học Phật giáo đã
không chỉ phủ nhận thế giới quan thần quyền và chủ nghĩa siêu nhiên đương thời,
mà còn còn lên án, phê phán mạnh mẽ chế độ phân biệt đẳng cấp hà khắc - một
trong những nguyên nhân gây nên sự bất công, đau khổ của những thân phận người
nhỏ bé trong xã hội Ấn Độ cổ - trung đại. Nhằm giúp con người thoát khỏi “bể khổ”
của kiếp người, ngay từ đầu, trong triết lý của mình, triết học Phật giáo đã chủ
trương giải thoát cho tất cả chúng sinh bằng niềm tin vào đời sống đạo đức, bằng
sự tu luyện đạo đức, thiền định, “thực nghiệm tâm linh”, trầm tư, mặc tưởng và
đào sâu suy nghĩa trong thế giới nội tâm của con người. Hướng đến cái đích cuối
cùng là giải thoát cho con người, giúp con người được tự do, tự tại, được an lạc,
hạnh phúc và thế giới sẽ không có sự thù hận, con người trở về đúng với bản chất
của mình bằng cái tâm trong sáng, không vọng động,… Đức Phật đã nói: “Không có
đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn.
Tình thương là sợi dây nối liền giữa người với người. Mỗi người sinh ra không ai
mang sẵn trong bào thai sợi dây truyền ở cổ tay hay vết tica trên trán”.
Theo học giả Minh Chi: “Đạo Phật là đạo của trí tuệ, của
tình thương rộng lớn. Đạo Phật đem lại cho mọi người nhiệt tình sống cuộc sống
đạo đức, sống cuộc sống tâm linh cao cả, cuộc sống trong sáng thanh tịnh, đầy
lòng bao dung…Đạo Phật cũng như bản thân Đức Phật luôn khuyên mọi người hãy tin
ở sức mình, hãy tin ở mình, hãy tự thắp đuốc lên mà đi…Có người nói đạo Phật là
tôn giáo của niềm tin nhưng không phải là niềm tin ở Thượng đế mà là niềm tin ở
con người, ở lý trí của con người biết thương yêu đồng loại, ở ý chí của con
người vươn tới cái tối thiện”.
Với quan niệm cho
rằng, bản chất của nhân sinh là đau khổ: “Nước
mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới chứa tích lại nhiều hơn nước ngoài bốn bể”
thì những nổi khổ mà con người gặp
phải giữa cuộc đời đã thôi thúc con người vươn lên mơ ước đạt tới một cõi hạnh
phúc lý tưởng tuyệt đối. Triết học Phật giáo không chỉ đi vào lý giải vấn đề
thoát khổ theo quan niệm thông thường, mà trên con đường hướng đến mục đích đó,
họ còn đặt ra những vấn đề khiến cho con người luôn khao khát tìm kiếm khám phá
như: Bản chất ý nghĩa tối cao của cuộc đời là gì? Cái gì là giá trị cao cả là
cứu cánh của cuộc sống con người? ...
Khác với quan điểm của kinh Véda, kinh
Upanishad và các tôn giáo khác đã thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu
nhiên tuyệt đối, tối cao, sáng tạo và chi phối đến tinh thần vũ trụ (Brahman,
Atman), Phật giáo cho rằng, vũ trụ là vô thuỷ, vô chung, vạn vật trong thế giới
này chỉ là dòng biến hoá vô thường, duyên sanh vô định, không do một vị thần nào
sáng tạo nên cả. Theo triết lý Phật giáo, sở dĩ tất cả các sự vật, hiện tượng
hiện tượng trong vũ trụ (vạn pháp) luôn biến đổi không ngừng, không nghĩ theo
quá trình sinh - trụ - dị - diệt hay thành - trụ - hoại - không (sinh - lão -
bệnh - tử) là vì vũ trụ từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn đều không thoát
khỏi sự chi phối của luật nhân quả, hay còn gọi là lý “Nhân duyên khởi”.
Trong nguyên lý “nhân duyên khởi” của
mình nhà Phật coi vạn vật trong vũ trụ đều có nguyên nhân tự thân, không do một
đấng thần linh nào sáng tạo ra cả. Cũng từ thế giới quan vô thần nên Phật giáo
cho rằng, sự đa dạng của tồn tại là do “nhân duyên” tạo ra: nhân duyên hội thì
sự vật tạo ra. Nhân duyên hết thì sự vật không còn. “Nhân duyên” quan hệ chặt
chẽ với “nhân quả”. Nhân là nghiệp lực. Quả là nghiệp lực đã thành hiện thực nhờ
hội đủ duyên. Theo triết lý của Đức Phật, “Nhân duyên khởi” và “nhân quả” là
nguyên lý phổ biến tuyệt đối của tồn tại. “Duyên” được hiểu vừa là nguyên nhân
sinh ra cái mới, và là kết quả của quá trình biến đổi cái cũ trước đó. “Nhân”
nhờ duyên mà thành quả mới, quả nhờ duyên mà thành nhân mới, nhân mới nhờ duyên
mà thành quả mới... quá trình cứ như thế nối tiếp nhau vô cùng, vô tận mà thế
giới vạn vật, muôn loài cứ sinh sinh hoá hoá không ngừng. Phật gọi quá trình này
là “chư hành vô thường”. Không chỉ vậy, thuyết “Nhân duyên khởi” còn bao gồm lục
nhân, tam duyên, tứ duyên và thập nhị nhân duyên. Với sự liên tục của “vô minh”,
hành, thức, danh - sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão - tử, sầu,
bi, khổ, ưu, não. Vô minh là nguồn khởi của toàn bộ đau khổ của con người. Chấm
dứt vô minh thì khổ đau sẽ không còn. Vì thế, chấm dứt vô minh, hành dứt, chấm
dứt hành, thức diệt, do thức diệt mà danh sắc diệt, do sinh diệt mà lão, tử,
sầu, bi, khổ, não diệt.
Như thế, theo lý “nhân duyên sinh” mà
vạn vật, chúng sinh cứ biến hoá, vô thường, vụt mất, không có một hình thức nào
tồn tại riêng lẽ và vĩnh viễn, không có cái tôi thường định, không có cái ngã
hay cái ngã cá nhân bất biến. Do đó, kinh Tăng Nhất A Hàm viết: “Pháp pháp tự
sinh; pháp pháp tự diệt; pháp pháp tự động; pháp pháp tự nghĩ... pháp có thể
sinh ra pháp. Như thế hết thảy mọi cái có đều quay về cái không: không ta, không
người, không mệnh, không sĩ, không phu, không hình, không tướng, không nam,
không nữ” . Phái Đại thừa cũng với tư
tưởng đó, kinh Bát Nhã Ba La Mật viết: “Sắc bất dị không, không bất di sắc, sắc
tức thị không, không tức thi sắc: thụ, tưởng, hành, thức, diệc phúc như thị”.
Phật giáo gọi là “vạn pháp vô ngã”.
Điều khiến cho con
người không nhận ra chân tướng, nguồn gốc của sự biến đổi vô cùng, vô tận của
vạn vật và chúng sinh là do “Nhân duyên”. Vì vậy, con người đã lầm tưởng rằng
mình tồn tại mãi mãi, và mọi thứ trên cõi đời này đều là của ta, do ta. Chính
với cái nhân sinh như thế nên con người cứ tham, sân, si dẫn đến hành động chiếm
đoạt để thoả mãn những dục vọng của mình, tạo ra những kết quả, gây ra những
nghiệp báo, mắc vào bể khổ triền miên trong tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc
giới) và lục đạo (cõi trời, dân gian, súc sinh, Atula, ngã quỷ và địa ngục), Đức
Phật gọi đó là sự luân hồi. Do đó, kinh pháp Cú cho rằng: “Không có lửa nào như
lửa tham, không có ngục tù nào như lòng sân, không có lưới nào như vô minh, và
không có dòng sông nào như ái dục”.
Phật giáo với thuyết “Nhân duyên khởi”
không chỉ có giá trị tư tưởng, mà còn có giá trị văn hoá, tôn giáo tích cực
trong những quốc gia mà nó hiện diện. Nguyên lý “Nhân duyên khởi” là một cuộc
cách mạng thật sự khi nó giúp con người giải thoát khỏi thần quyền. Có thể nói,
Phật giáo là tôn giáo lần đầu tiên đưa ra lập trường “tôn giáo vô thần” đảo
hướng tư duy sang tìm kiếm niềm tin ở chính con người. Đóng góp này của Phật
giáo đã mở ra một cách tiếp cận độc đáo trong việc đề cao con người và mong muốn
giải phóng con người thoát khỏi những nổi khổ trần ai.
Con đường giải thoát của Phật giáo được mở rộng ra cho tất cả mọi người. Vì vậy,
tư tưởng giải thoát của triết lý nhà Phật mang tính nhân bản sâu sắc, nó vượt
qua giới hạn đẳng cấp khắc nghiệt vốn là truyền thống lâu đời trong xã hội Ấn Độ
cổ - trung đại. Phật giáo quan tâm đến thân phận và đời sống của mỗi con người,
chủ trương giải thoát cho tất cả chúng sinh khỏi những nỗi khổ của cuộc đời bằng
tin tưởng vào đời sống đạo đức, từ, bi, hỉ, xả (Tứ vô lượng tâm), bác ái và sức
mạnh của trí tuệ, huệ giác của chính con người. Tư tưởng ấy là tiếng nói đại
diện cho khát vọng đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội của nhân dân Ấn Độ cổ
- trung đại. Đây cũng là mơ ước ngàn đời mà nhân loại luôn hướng tới. Dù chỉ
dừng lại ở giải thoát trong lĩnh vực tinh thần, tâm lý, đạo đức nhưng tư tưởng
giải thoát của triết học tôn giáo Ấn Độ cổ - trung đại vẫn thể hiện tính nhân
bản, nhân văn sâu sắc, đó là ước vọng giải phóng con người.
Theo quan niệm của nhà Phật thì tất cả chúng sinh trong thế
giới này đều là bạn hữu và mọi nơi chốn trên thế gian này đều là quê hương, xứ
sở của mình. Lòng thương yêu vô cùng mà chúng sinh giành cho nhau tựa như ánh
mặt trời toả sáng khắp không gian, bao trùm vạn vật, chẳng phân biệt đây hay
kia, thân hay sơ, bạn hay thù, giàu hay nghèo, người hay vật. Xuất phát từ quan
điểm đại đồng trong nhân sinh quan của mình, triết học Phật giáo đã cho chúng ta
thấy một tinh thần khoan dung và tha thứ mang đậm tính nhân bản, nhân văn sâu
sắc, đó cũng chính là ước vọng giải phóng con người của nhà Phật. Đức Phật đã
dạy: hận thù không dập tắt được hận thù, chỉ có tình thương mới dập tắt được hận
thù, đó là định luật từ ngàn xưa hay Ngài
nói dù xây chín bậc phù đồ, sao bằng làm phúc cứu cho một con người. Như vậy,
chân giá trị của Phật giáo là nó hướng con người vươn tới cái toàn chân, toàn
thiện và toàn mỹ, mà biểu tượng nhân cách hoá chính là Đức Phật.
Mục đích tối cao
của Đức Phật là tìm con đường giải thoát cho nhân loại khỏi khổ đau: “Nước
ngoài biển khơi chỉ có một vị mặn, đạo của ta chỉ có một vị là giải thoát”.
Để thực hiện mục đích và lý tưởng giải thoát, tiêu diệt cái đau khổ, theo nhà
Phật, con người phải rèn luyện đạo đức (giới). Ý nghĩa của giới là tích cực làm
điều thiện, ngăn điều ác. Tại gia Phật tử thì giữ các điều giới là Ngũ giới và
Thập thiện. Rèn luyện tư tưởng (định) - có nghĩa là
tâm tập trung vào một cảnh, không để cho tán loạn, không thiên về khinh an, quán
suốt mọi pháp, để phát sinh ra trí tuệ vô lậu. Khai sáng trí tuệ (tuệ). Đó là ba
phương pháp quan trọng giúp chúng sinh tiêu diệt được tam độc. Ngoài ra, Phật
giáo đưa ra tám con đường chân chính, những phương pháp thực hành tu luyện tổng
quát cho tất cả các Phật tử để chủ động điều tốt cho người và cho mình đó là
“Ngũ giới” và “Lục độ”. Những điều răn trên đây mang nhiều yếu tố tích cực về
đạo đức, khuyên người ta nên thương người, sống lành, ở hiền.
Bằng thế giới quan vô thần và biện chứng sâu sắc, triết học Phật giáo đã
nhìn thấy sự vận động, biến đổi của thế giới hiện tượng với khái niệm Vô thường.
Với hệ thống các quan điểm của mình, nhà Phật đã vẻ lên một thế giới sinh động
và đa dạng trong tính biến đổi tương đối. Triết học Phật giáo đã tìm thấy sự đối
lập của các mặt trong sự đồng nhất của vạn vật, vạch ra được những mâu thuẫn nội
tại của chúng như: ý thức và vô thức, Niết bàn và vô minh, tự ngã và vô ngã, tâm
sai biệt và tâm tĩnh lặng…song Phật giáo đã nhấn mạnh tính đồng nhất của chúng
và coi sự đối lập chỉ là trạng thái biến thể của sự thống nhất mà thôi. Không
chỉ vậy, trong quan niệm của triết học Phật giáo, dường như đã tách rời và cô
lập hoàn toàn trạng thái đứng im, bất biến (chân không) với sự vận động, biến
đổi (thế giới hiện tượng). Sự tách rời này làm mất đi sức sống, tính chân thực
của vận động.
Đạo Phật chỉ tập trung lý giải con người tinh thần hướng nội, và gần như
chưa quan tâm đến con người vật chất, con người xã hội, và do đó, tính nhân văn
cũng bị hạn chế. Triết lý nhà Phật luôn hướng đến con người, mong muốn đưa con
người thoát khỏi những nỗi khổ trước tình trạng bất công, đau khổ trong xã hội
Ấn Độ cổ - trung đại, nhưng Phật giáo chỉ hướng đến sự giải thoát trong lĩnh vực
tinh thần, tâm linh. Khổ của Đạo Phật là cái khổ nội tâm của tâm lý, sinh lý,
tâm linh. Đúng như Kimura Taiken đã viết: “đối với nhân sinh, Phật giáo cho là
khổ, bởi vậy mới lấy tự do, giải thoát làm tiêu chuẩn lý tưởng. Song sự khổ não
và trói buộc ấy không phải là sự thực tồn tại khách quan mà là căn cứ vào thái
độ của tâm ta cả, nghĩa là cứ khư khư chấp lấy cái “ngã” giả dối là cái “ta”
chân thực rồi trù mưu, tính kế để làm cho nó thoả mãn mọi ham muốn của cái ta
ấy, nên mới có khổ não, trói buộc. Nếu ta có thể vượt hẳn ra ngoài vòng tham dục
của cái “ngã” nhỏ nhoi ấy thì không những ta sẽ không thấy khổ, thấy trói buộc
mà trái lại, ta sẽ tới một cảnh giới tự do và yên vui vô hạn”.
Chính vì lý giải nguyên nhân của nổi khổ như vậy nên triết lý nhà Phật về
phương pháp và con đường để giải thoát cũng khác biệt so với các trường phái
triết học khác. Tuy không tán thành với cách thức, phương pháp tu luyện ép xác
khổ hạnh để đạt tới sự giải thoát của đạo Jaina cũng như chủ nghĩa khoái lạc vật
chất của trường phái Lokayata, nhưng Phật giáo lại hướng tới con đường trung
đạo. Từ con đường trung đạo, theo Đức Phật muốn giải thoát thì “người xuất gia
có hai cực đoan cần tránh, một là con đường thất hèn chủ trương cuộc sống chỉ
cần khoái lạc, một con đường cực nhọc vô ích như chủ trương của phái khổ hạnh ép
xác. Con đường trung đạo thì ở giữa hai thái cực kia, có thể dẫn đến giác ngộ và
giải thoát”.
Bằng con đường trung đạo để giải thoát, Phật giáo cho rằng, chỉ có sự tu
luyện theo Bát chính đạo để cắt đứt mọi duyên sinh, diệt hết mọi dục vọng, tiến
tới giác ngộ trí tuệ, hoà nhập Niết bàn. Như vậy, con đường giải thoát của Phật
giáo là sự tu luyện toàn diện từ đời sống đạo đức theo giới luật và sự trầm tư
mặc tưởng, đào sâu nghĩ trong thế giới nội tâm của con người.
Khi trả lời câu hỏi con người làm gì để giải thoát khỏi bể khổ của cuộc
đời này? Giáo lý Phật giáo dạy rằng: con người phải thực hiện bằng chính cuộc
đời nhân đức của mình để thoát khỏi luật định nhân quả. Như vậy, đạo Phật là con
đường mỗi người tự đi và tự tới đích chứ không phải là nhờ sự ban ơn của đấng
thần linh mà chỉ dựa vào sự nỗ lực của chính bản thân mình. Trên con đường tu
luyện, con người tự hiểu bản chất đích thực của mình và càng tránh xa ái dục và
tội lỗi tạo nên nghiệp báo và luân hồi. Như Kimura Taiken nhận xét: “đứng về
phương diện Đức Phật mà nói thì Phật không nhờ một sức thiêng liêng nào ở ngoài
phù hộ mà phải do tự lực của mình để thành Phật”.
Lời dạy cuối cùng của Đức Phật là: “hãy tự mình thắp đuốc lên, hãy tự mình nương
tựa nơi mình, nương tựa Chính Pháp, chứ đừng nương tựa vào một nơi nào khác”.
Đích đến của con đường giải thoát trong triết lý
nhà Phật không phải là Thiên đường, trở về với Chúa mà là sự tận diệt cái cá thể
đầy những ham muốn dục vọng với sự u tối của kiếp người để đạt tới Niết bàn.
Niết bàn là sự đoạn trừ dục vọng, dứt nghiệp báo luân hồi, thanh tịnh tuyệt đối.
“Đó là sự ngưng đọng vĩnh cửu của không - thời gian trong cõi tâm linh sâu thẳm
của con người”. Như vậy, Niết bàn trong Phật giáo là
một cõi cực lạc, là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, yên tĩnh, sáng
suốt, không vọng động, diệt ái dục, xóa bỏ vô minh, chấm dứt mọi khổ đau phiền
não. Giải thoát
trong triết lý nhà Phật, đó là trạng thái đời sống tinh thần con người vượt ra
khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới nhục dục, là sự “diệt” hết mọi dục vọng, dập
tắt ngon lửa dục vọng để đạt tới cõi Niết bàn (Nirvana). Khi con người ta được
giải thoát cũng chính là con người ta đạt tới sự siêu thoát, nghĩa là họ vượt ra
khỏi thế giới trần tục, thoát khỏi sự chi phối của dục vọng, sinh tử, phiền não,
sống hoàn toàn thanhh thoát, tự do, tự tại. Song, để đạt tới thể “không tịch”
không có nghĩa là trở về với cái hoàn toàn hư vô tuyệt diệt mà chỉ là sự đả phá
thành kiến chấp ngã, hẹp hòi, bởi, theo Phật giáo, thế giới đang tồn tại là thế
giới vô ngã, để từ đó thấu đạt tư tưởng “chư hành vô thường, vạn pháp vô ngã,
hết thảy đều là không” của pháp ấn.
Từ việc luận giải các khía cạnh của vấn đề giải thoát luận và tư tưởng
giải phóng con người trong triết học Phật giáo, chúng ta nhận thấy rằng, mục
đích chung của Đạo Phậtlà vì con người, giúp con người thoát khỏi những áp bức,
bất công, những phiền muộn trong cuộc sống và hướng đến sự tự do, hạnh phúc và
bình đẳng của cuộc đời mà tạo hoá đã ban tặng. Với ý nghĩa đó, tư tưởng giải
thoát trong triết lý Phật giáo Ấn Độ cổ - trung đại đã có sự gặp gỡ với nhiều hệ
tư tưởng hiện đại sau này. Quan niệm “đời là bể khổ”, triết lý giải thoát của
Phật giáo Ấn Độ cổ - trung đại vừa phản ánh sự hà khắc của thiết chế xã hội
đương thời, nhưng đồng thời cũng chính là ước mơ, là khát vọng của người dân Ấn
Độ muốn thoát khỏi những nổi khổ của cuộc đời, hướng đến một cuộc sống an bình,
hạnh phúc ở cõi Niết bàn. Mặc dù còn nhiều vấn đề cần bàn thêm khi giải thích về
nguồn gốc của nỗi khổ, cũng như con đường hiện thực, những biện pháp hữu hiệu để
giúp con người thoát khỏi những bất công nơi trần thế mà họ phải chịu đựng,
nhưng triết học Phật giáo vẫn mang những giá trị nhân văn sâu sắc.
Như vậy, ra đời từ rất sớm trong lịch sử phát
triển của tư duy nhân loại nhưng những quan niệm của triết học Phật giáo về sự
khổ mà con người phải gánh chịu và giải thoát nỗi khổ đã chứa đựng tư tưởng tiến
bộ mà không phải hệ tư tưởng đương thời nào cũng có được, đó là: đề cao giá trị
con người, mong muốn xây dựng con người đạo đức, hướng thiện. Chính những giá
trị đó đã góp phần đem lại cho Phật giáo một sức sống mãnh liệt, trường tồn và
phát triển rộng khắp trong các nền văn hóa ở phương Đông cho đến ngày nay. Đó
cũng chính là sức mạnh mãnh liệt tạo nên
không khí hài hoà và tình thương vô bờ bến ngay giữa những cảnh tượng xung đột
gay gắt của các nền văn minh.
Địa chỉ liên lạc (tác giả):
Lâm Bá Hoà
Khoa Lý luận chính
trị, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
71 Ngũ Hành Sơn -
Quận Ngũ Hành Sơn – TP. Đà Nẵng.
Điện thoại: 097 3113 166