Minh Thạnh
Chúng tôi được Quỹ
Ấn tống Hoa Sen trao tặng quyển sách “Trình tự của cư sĩ học Phật”, tác giả Chánh Trí Mai Thọ Truyền.
Dưới đây xin giới thiệu cùng bạn đọc.
1)
Tác giả Chánh Trí
Mai Thọ Truyền
(Trích từ tiểu sử
Danh tăng Việt Nam, thế kỷ XX Tỳ kheo Thích Đồng Bổn, 1999)
Cư
sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một
gia đình trung lưu.
Thuở nhỏ ông được theo
học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup
Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc
tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại
Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc.
Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ,
không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
Năm 1945, sau đảo chính Nhật, ông đang làm Quận trưởng Cầu Ngang, được mời về
giữ chức Phó Tỉnh trưởng Trà Vinh.
Tháng 6 năm ấy, chính quyền Trần Trọng Kim cử ông làm Quận trưởng Thốt Nốt (Long
Xuyên). Sau Cách Mạng Tháng Tám, ông được cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Quận Bộ
Việt Minh Châu Thành, Long Xuyên, rồi Chánh văn phòng kiêm Ủy viên Tài chánh Ủy
Ban Nhân Dân tỉnh Long Xuyên.
Sau khi quân đội Pháp
chiếm Long Xuyên, ông cùng Ủy ban dời về núi Sập rồi giải tán, nhường quyền chỉ
huy kháng chiến cho quân sự. Ông lánh về vùng thôn quê ẩn náu.
Chính phủ Nguyễn Văn Thinh mời ông làm Quận trưởng, rồi Phó tỉnh trưởng
Sa Đéc. Trước cảnh quân đội Pháp bố ráp tàn sát dân chúng, ông can thiệp
không được, nên xin từ chức. Chính phủ không cho, ông bèn cáo bệnh xin đi điều
dưỡng.
Giữa năm 1947, ông xin
đổi về Sài Gòn và lần lượt giữ các chức vụ sau đây: Chánh văn phòng Phủ Thủ
Tướng chính phủ Nguyễn Văn Xuân (Hà Nội), Chánh văn phòng Bộ Kinh Tế, Giám đốc
hành chánh sự vụ Bộ Ngoại Giao, Đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ của Chính phủ Nguyễn
Phan Long, Đổng Lý văn phòng Phủ Thủ Hiến Việt Nam và Phó Đổng lý văn phòng Phủ
Thủ tướng của Chính phủ Bửu Lộc. Năm 1955 ông đổi qua ngạch Thanh tra Hành chánh
và Tài chánh, đến năm 1960 thì về hưu.
Sau ngày 01-11-1963, ông tham gia Hội Đồng Nhân Sĩ cách mạng.
Năm 1967 ông ứng cử Phó Tổng thống trong liên danh Trần Văn Hương. Năm 1968 ông
giữ chức Quốc vụ khanh kiêm Viện trưởng Giám sát viện, rồi Quốc vụ khanh đặc
trách Văn hóa cho đến năm quy tịch. Với trách vụ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa,
ông đã làm được những việc có ích cho đương thời và hậu thế: xây dựng Thư viện
Quốc gia (ngay trên khuôn đất mà thực dân Pháp đã dùng xây khám lớn Saigon gieo
biết bao tội ác) nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố, xúc tiến việc
thành lập Văn khố quốc gia và Nhà văn hóa, thành lập và đẩy mạnh hoạt động của
Ủy ban Điển chế văn tự, lập Ủy ban dịch thuật và xuất bản các sách Hán Nôm quý
hiếm, thành lập Chi nhánh Bảo tồn Cổ tích Huế.
Sự
nghiệp lịch sử của ông đối với Phật giáo từ khi ông bắt đầu trở thành cư sĩ Phật
tử. Trong những năm làm việc đó đây khắp lục tỉnh
miền Tây, ông để tâm nghiên cứu tìm hiểu về Phật giáo, Nho giáo, và các tư tưởng
tôn giáo triết lý khác. Đến đâu ông cũng tham vấn các vị danh
nho nổi tiếng để thử tài học vấn và biện bác, nhưng chưa vị nào giúp ông thỏa
nguyện. Đến khi làm việc ở Sa Đéc, ông đến tham vấn Hòa Thượng Thích Hành
Trụ thế danh Lê Phước Bình, là giảng sư tại chùa Long An, chính nơi đây ông thực
sự qui ngưỡng cảm phục trước đức độ và trí tuệ của vị danh Tăng nên cầu làm đệ
tử của Ngài. Hòa thượng Thích Hành Trụ đặt pháp danh cho ông
là Chánh Trí. Từ đây, ông bắt
đầu dốc lòng đem khả năng và trình độ học thức của mình ra hộ trì chánh pháp.
Đối với phong trào
chấn hưng Phật giáo, ông là một kiện tướng trong hàng cư sĩ đã đóng góp công sức
rất lớn. Là một Phật tử thuần thành, ông ăn chay trường từ ngày thọ Tam quy ngũ giới, làm Phật sự không biết mệt mỏi.
Năm 1950, tại Saigon, ông vận động thành lập Hội Phật Học Nam Việt. Ban
đầu hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, sau dời qua chùa Phước Hòa. Ông vận động
và đứng ra xây dựng ngôi chùa lịch sử Xá Lợi, một ngôi phạm vũ huy hoàng tráng
lệ nhất, tiêu biểu cho nét văn hóa mới của Đông Tây hòa quyện, làm trụ sở của
Hội Phật Học Nam Việt. Năm 1958 hội chuyển về chùa Xá Lợi.
Ông làm Tổng thư ký của hội khi mới thành lập và Hội
trưởng từ 1955 cho đến ngày ông mất. Hội đã mở các lớp Phật học phổ thông lúc
bấy giờ do chư Thượng tọa Thiện Hòa, Trí Hữu, Thiện Hoa, Quảng Minh diễn
giảng. Ông cũng tham gia soạn và giảng một số tiết mục cho học viên.
Hàng tuần, tại chùa Xá Lợi, ông còn tổ chức các thời thuyết pháp cho đại chúng
do ông mời các vị cao Tăng Đại đức trong nước hay nước ngoài đăng đàn.
Có khi chính ông là giảng sư.
Bên cạnh đó, Hội Phật
Học Nam Việt còn xuất bản tạp chí Từ Quang do ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tạp chí này suốt gần 24 năm liên tục (1951- 1975) đã đóng góp không
nhỏ cho công việc phổ biến Phật học ở Sài Gòn và các tỉnh.
Tạp chí đã được chư
Tăng bên Giáo Hội Tăng Già Nam Việt sốt sắng góp phần về phương diện biên tập. Chính ông là người viết thường xuyên trên Từ Quang. Với lối
hành văn nhẹ nhàng, bóng bẩy và sâu sắc, với trình độ thâm hiểu nghĩa lý sâu xa
của kinh điển, những bài ông viết đã được độc giả hoan nghênh, đã tạo cơ duyên
cho nhiều người đến với đạo Phật. Ông cùng Hội Phật Học Nam Việt đã thành lập
trên 40 Tỉnh hội và Chi hội Phật học khắp miền Nam.
Để làm đòn bẩy thúc
đẩy cho phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Nam, năm 1952, ông và Hội Phật
Học Nam Việt đã tạo nên Phật sự vô cùng quan trọng, gây được tiếng vang khắp
toàn quốc. Đó là lễ rước ngọc Xá Lợi tại Sài Gòn vào ngày
13-9-1952. Nhân khi phái đoàn Phật giáo Tích Lan đi dự Đại Hội Phật Giáo
thế giới kỳ II tại Tokyo, có mang theo một viên ngọc Xá Lợi để tặng quốc gia
Nhật Bản. Trên đường đi, phái đoàn quá cảnh Sài Gòn 24 tiếng đồng hồ.
Cuộc rước ngọc Xá Lợi đã được đông đảo Tăng Ni, Phật tử và đồng
bào thành phố và các tỉnh lân cận tham dự để chiêm bái Xá Lợi Phật đầu tiên đến
Việt Nam.
Trong giai đoạn đấu
tranh năm 1963 được coi là pháp nạn, ông giữ nhiệm vụ Tổng thư ký Ủy Ban Liên
Phái Bảo Vệ Phật Giáo đòi hỏi chính quyền Ngô Đình Diệm thực thi bình đẳng tôn
giáo. Ông và Hội Phật Học Nam Việt đồng ý để Ủy ban đặt trụ sở trung ương tại
chùa Xá Lợi. Khi chính quyền cho quân đội và cảnh sát đánh phá, phong tỏa chùa,
bắt bớ cầm tù Tăng Ni Phật tử, ông cũng chịu chung số phận.
Chùa Xá Lợi trở thành địa điểm lịch sử trong cuộc đấu tranh kiên cường đẫm máu
của Phật giáo đồ chống chế độ độc tài kỳ thị tôn giáo.
Năm 1964, ông tham gia Ủy ban soạn thảo Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất và được bầu làm Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Nhưng vì bất đồng ý kiến về mặt tổ chức, chỉ một
tháng sau ông từ nhiệm, quay về hoạt động cho Hội Phật Học Nam Việt trong cương
vị Hội trưởng.
Khi Viện Đại Học Vạn
Hạnh được thành lập, tạm đặt tại chùa Xá Lợi trong khi chờ xây xong cơ sở, ông
nhận làm giáo viên cho Viện trước tiên, và sau đó ông còn giữ chức Phụ tá Viện
trưởng đặc trách hành chánh và tài chánh, kiêm Tổng thư ký niên khóa 1967- 1968.
Ngoài những Phật sự nói trên, ông còn để tâm nghiên cứu kinh điển Phật Đà. Với học lực uyên thâm
và sự thông hiểu sâu sắc giáo lý ông đã dành nhiều thời gian dịch và trước tác
các tác phẩm có giá trị về Phật học như sau:
·
Tâm và Tánh (do Nhà Xuất bản Đuốc Tuệ - Hà Nội ấn hành năm 1950).
·
Ý
nghĩa Niết Bàn (1962).
·
Một đời sống vị tha (1962).
·
Tâm kinh Việt giải (1962).
·
Le
Bouddhisme au Viet Nam (1962)
·
Pháp Hoa huyền nghĩa (1964)
·
Địa Tạng mật nghĩa (1965) (Do Hội Phật Học Nam Việt ấn hành).
Ngoài ra, ông còn một
số tác phẩm chưa xuất bản như: Truyền tâm pháp yếu, Tây Du Ký, Hư Vân Lão Hòa
Thượng, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Mười lăm ngày ở Nhật, Vòng
quanh thế giới Phật giáo, Đạo đời, Khảo cứu về Tịnh Độ Tông, Mật Tông và một tác
phẩm đang viết dở là Kinh Lăng Nghiêm.
Ngày 15-4-1973, ông
còn cùng các đại biểu các tỉnh của Hội Phật Học Nam Việt họp đại hội tại chùa Xá
Lợi, chia tay vào lúc 23 giờ khuya.
Sáng 17-4-1973 tức rằm tháng ba năm Quý Sửu, vào lúc 8 giờ 15, ông nằm ngay
thẳng, từ giã cõi trần rất nhẹ nhàng, thanh thản, hưởng thọ 69 tuổi.
Ông đã cống hiến trọn đời cho việc phụng sự Phật pháp. Ông là một người cư sĩ mẫu
mực uyên thâm giáo lý, tận tụy với đạo dù đang ở những địa vị cao của quan
trường. Ông là một điển hình cho sự tích cực của hàng cư sĩ lợi đạo ích
đời theo tinh thần đạo Phật, và là điểm sáng chói ở miền Nam trong phong trào
chấn hưng và thống nhất Phật giáo, góp phần lớn lao trong sự nghiệp truyền bá
tri thức Phật học, nhất là phát triển hệ thống Phật học cư sĩ do ông sáng lập ra
vẫn còn duy trì hoạt động cho đến ngày nay.
2)
Sách “Trình tự của
cư sĩ học Phật”
Đây là tuyển tập
những bài viết, bài giảng của cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền đã đăng trên Tạp
chí Từ Quang, cơ quan ngôn luận của Hội Phật học Nam Việt, khoảng 50 năm trước
đây. Số lượng bài viết lên đến 31 bài, trong tập sách dày 364 trang, với nhiều
đề tài, đi từ những vấn đề cơ bản của đạo Phật như “Tu
là gì?”, “Đạo Phật của tôi”, “Luận đề chánh kiến”, “Chánh tư duy”, “… làm lành
tránh dữ”…. đến những vấn đề đào sâu, mở rộng như “Diệt
dục”, “Phật giáo và khoa học hiện đại”, “Phép tu dưỡng của đạo Phật”, “Những
cống hiến của Phật giáo cho nền mỹ nghệ, văn chương và triết học ở Việt Nam”,
“Lối thiền định của nhà Phật”, “Khảo cứu về thiền tông”…
Văn phong của cụ
Chánh Trí Mai Thọ Truyền rất giản dị, trong sáng, rõ ràng, khúc chiết, nên người
đọc có thể dễ dàng lãnh hội những vấn đề thâm sâu của đạo Phật qua nội dung
trình bày của cụ. Nhiều chỗ, cụ có
những ví dụ hết sức cụ thể, sinh động, giúp người đọc hình dung ra ngay vấn đề
cụ muốn truyền đạt.
Sách thể hiện những
trải nghiệm cá nhân của cụ Chánh trí Mai Thọ Truyền trong việc hành trì đạo
Phật, song song với việc trình bày những nội dung giáo lý nền tảng của đạo Phật.
Vì vậy, tập sách chân thực như một quyển hồi ký, giá trị như một quyển giáo lý,
mà ở đó, các vấn đề được trình bày thuyết phục trong sự gắn bó với thực tế vận
dụng.
Như thế, sách vừa
giúp ích cho người mới tìm hiểu đạo Phật lẫn người muốn học Phật nâng cao. Người mới học Phật thì tìm thấy những vấn
đề giáo lý căn bản, trình bày từ dễ đến khó. Người đã có trình độ Phật học thì
có thể tìm thấy những kiến giải mới, những kinh nghiệm vận dụng Phật học, những
điểm sáng tạo trong việc khám phá giáo lý đạo Phật. “Trình tự của cư sĩ học Phật” mở một lối đi đầy hoa
thơm
cỏ lạ vào khu vườn Phật pháp.
Ở đó, người đọc vừa
thấm cái chân tình của người học Phật lâu năm, đã trải nghiệm sự vi diệu Phật
pháp, vừa thưởng thức được sự cao thâm của giáo pháp được diễn đạt muôn màu,
muôn vẻ.
Một trong những cách
trình bày độc đáo của quyển “Trình tự
người cư sĩ học Phật” là đi từ những câu hỏi. Mà phần lớn nội
dung quyển sách là các câu trả lời.
Trục chính của quyển sách là câu hỏi “Tu
là gì?”, “Tu như thế nào?”, “Tu bằng những phương cách gì”.
Kiến thức Phật học
nhiều, liên hệ thực tế tu học cũng nhiều, nhưng đọc sách “Trình tự người cư sĩ học Phật” người đọc
vẫn thấy nhẹ nhàng, thoải mái, an
lạc như một cuộc dạo chơi trong kiến thức Phật học.
Tập họp những bài
giảng căn bản Phật học, sách “Trình tự
người cư sĩ học Phật” rất hữu ích đối với quý vị Tăng Ni giảng sư, cần những
bài giảng mẫu, vừa thâm sâu trong nội dung, vừa trình bày dễ hiểu, có thể tham
khảo sử dụng trong diễn giảng.
Được biết theo thông
tin từ sách “Trình tự của người cư sĩ học
Phật”, Quỹ Ấn tống Hoa Sen
đang có kế hoạch ấn tống nhiều kinh sách đọc và nói. Bạn đọc cũng như người muốn phát tâm ủng
hộ có thể liên hệ: Thầy Thích Đồng Bổn, Chùa Xá Lợi, số 89 Bà Huyện Thanh Quan, P6, Q3,
TPHCM. ĐT: (08) 39300114 – 66561059.

MTMặt
tiền chùa Xá Lợi - ảnh: Võ Văn Tường