
Nhân dịp Xuân Nhâm Thìn 2012, tôi có viết bài
Cá Nghe Kinh đăng trên báo Văn Hóa Phật Giáo
trong nước và các báo Xuân tiếng Việt khác ở ngoài nước. Yêu
cầu của một bài báo Xuân là ngắn gọn (không quá 2000 chữ), có nội dung tươi mát
và tinh thần đại chúng. Nghĩa là tránh được hình thức rề rà kinh điển,
liệt kê thư tịch, trích dẫn khảo cứu... khô khan được
chừng nào hay chừng đó.
Nếu những yêu cầu nầy đặt ra trong bối cảnh văn chương học
thuật khoảng 20 năm trước, có lẽ dân bút nghiên thời thượng sẽ buồn lòng.
Nhưng trong đà diễn biễn của cuộc cách mạng truyền thông đại
chúng nhanh như chớp mắt thời hiện đại thì một người cầm bút nhạy bén và cẩn
trọng cần phải tôn trọng và phát huy khi viết cho báo giấy. Cũng là để
góp phần cứu nguy cho khoảng từ 45 đến 65 phần trăm số lượng báo giấy trên toàn
thế giới đã bị báo điện tử đánh bại.
Những luận điểm chủ đạo của bài viết Cá Nghe Kinh đơn giản và cụ thể; không có
gì cần phải dựa vào “thiền lâm thư tịch” của Tam tạng Kinh điển để so sánh và
phân tích như tác giả
Đào Nguyên đã dành nhiều công sức và chữ nghĩa khi viết bài nhận định sau
hơn nửa năm bài báo trình làng.
Để có một cái nhìn khách quan và nhất quán về bài Cá Nghe Kinh vừa đề cập, tôi
xin được tóm lược về những luận điểm đã trình bày:
Luận điểm 1: Kinh nhật tụng của Phật giáo Việt
Nam hiện nay còn quá nặng nề về hình thức văn tự Hán Việt. Trong lúc đại đa số Phật tử thuộc thế hệ đàn anh xa lạ với văn từ
Hán Việt. Miệng đọc tụng nhưng đầu óc không hiểu về âm,
mù mờ về nghĩa là một sự phản tác dụng về tri thức và vướng víu về tâm linh. Đối với thế hệ đàn em thì sự bế tắc về hình thức văn tự Hán Việt
càng nghiêm trọng hơn. Vô hình chung đối với thế hệ trẻ, hình thức kinh
nhật tụng Hán Việt trở thành một thế giới “bùa chú” vì đọc mà không hiểu, lạy mà
không thông, cầu mà không biết. Nghe kinh mà không hiểu nghĩa thì khác gì đàn cá
nghe kinh!
Luận điểm 2: “Bóng đè” của kinh điển chữ Hán,
nhập cảng từ Trung Quốc quá nặng nề. Ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc quá nặng
trĩu về hình thức cũng như về nội dung trên văn hóa Phật giáo Việt Nam: Kiến
trúc, pháp phục, pháp khí, pháp nghi, pháp điệu... của Phật giáo Việt Nam chưa
thoát khỏi phiên bản của Phật giáo Đài Loan, Trung Quốc nếu đem ra cẩn thận so
sánh với thời trước và quan sát, kiểm nghiệm lại các hình thái hiện hữu trong
thời hiện đại.
Luận điểm 3: Hoa ngữ là một sinh ngữ vì đó là một
phương tiện sinh động về cả 3 mặt: Văn tự, thông tin và sinh hoạt. Nhưng Hán
Việt là một tử ngữ – một loại ngôn ngữ chết – vì chỉ còn duy nhất một mặt: Ký
tự. Đối với người Việt Nam trong cũng như ngoài nước có mấy ai còn dùng (hay có
khả năng dùng) Hán Việt để thông tin và sinh hoạt ngoài một số quý tăng lữ và
các nhà tham khảo chuyên ngành. Tại sao những lời kinh vàng
ngọc của đạo Phật Việt Nam vẫn còn bị buộc chặt vào một tuồng ngôn ngữ chết.
Tại sao các chùa chiền, tu viện Việt Nam mới xây dựng hay đại trùng tu hiện nay
vẫn bám chặt vào hình thức ngôn ngữ Hán Việt đã chết để tiếp tục chạm khắc chữ
Hán Việt trên những cổng tam quan, tiền đình, trụ đá, bia đồng... những câu Hán
Việt mà ngay thế hệ tu sĩ trẻ đang tu trong chùa cũng không thể nào đọc được?!
Những thời Kinh Nhật Tụng đang sử dụng trong các chùa chiền tự viện của Phật
giáo Việt Nam hiện nay tóm gọn chỉ vài ba trăm trang phông chữ lớn, khổ bỏ túi
mà còn chưa dịch ra chữ Quốc Ngữ (thuần Việt) thành một bản kinh văn trơn tru,
thống nhất cho Phật tử đọc tụng hàng ngày thì nói chi đến những chân trời xa xôi
Tam Tạng Kinh Điển.
Luận điểm 4: Các nước có lịch sử truyền thừa đạo
Phật tương đương với Việt Nam như: Ấn Độ, Tây Tạng, Miến Điện, Tích Lan, Thái
Lan, Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản và ngay cả Cam Bốt đều đã có Tam Tạng Kinh
Điển Phật giáo bằng ngôn ngữ thuần túy của nước họ. Nước Việt Nam ta “bốn nghìn năm văn hiến” đâu rồi mà mãi đến thế kỷ
21 nầy vẫn còn loanh quanh bàn về “công phu” dịch kinh. Thậm chí, phải
trông cậy vào khả năng dịch thuật của máy vi
tính là phương tiện đang còn ở giai đoạn sơ khai. Việc sử dụng những phương tiện
vi tính để dịch Đại Tạng Kinh từ Hán Tạng sang Việt Ngữ mới chỉ là một
thử nghiệm thuộc phạm trù khoa học kỹ thuật hơn là nhân văn. Khả năng chuyển ngữ
của các chương trình
vi tính hiện nay mới chỉ ở giai đoạn bước đầu nên mức
độ dịch thuật của máy chưa vượt qua khỏi trình độ chuyển ngữ căn bản. Trong lúc
Kinh điển, nhất là kinh điển nhà Phật, là ngôn ngữ nhân văn vừa cao, vừa sâu,
vừa rộng, vừa nghệ thuật của triết học, văn học và mỹ học. Bởi vậy, khi được
biết những nhóm thiện tri thức ở nhiều nơi trên thế giới muốn dịch Đại Tạng Kinh
bằng các chương trình vi tính và ngay cả khi được mời tham gia, tôi thường dè
dặt góp ý với anh chị em là “hãy hết sức tỉnh táo và dè dặt khi làm thơ bằng
máy” hơn là thật sự tin tưởng vào kết quả cụ thể.
Tôi rất hoan hỷ và tán thán tác giả Đào Nguyên đã đưa tôi vào sâu trong lĩnh vực
“chuyên môn” mà quý thiện hữu đã dày công đào luyện trong suốt 15 năm qua.
Nhưng thật đáng tiếc là chúng ta không nói cùng một ngôn ngữ. Ngôn ngữ
của tôi là chân trời tự do sáng tạo; trong lúc ngôn ngữ của quý thiện hữu Đào
Nguyên là những giá sách đóng khung của thư tịch và
thống kê số liệu. Trong lúc tôi tâm cảm bài thơ “ngắn nhất” và hay nhất của văn
học Phật giáo là bài thơ không lời của Ca Diếp “Ca Diếp niêm hoa mỉm miệng
cười”; bài thơ ngắn nhất gắn liền với số phận ngôi chùa cổ và giúp cho ngôi chùa
còn lưu lại với nhân gian là bài thơ
Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế. Tôi đã từng ngồi hết cả nửa đêm dưới
mái hiên chùa Hàn Sơn ở Trung Quốc, nghe sư cụ kể là chùa Hàn Sơn đã được trùng
tu tới 16 lần để còn tồn tại đến ngày nay cũng chỉ nhờ có 4 câu thơ của Trương
Kế; trong lúc hàng 3 chục nghìn ngôi chùa khác cùng thời đã trở thành cát bụi
với thời gian vì thiếu... một vần thơ! Trong lúc đó quý thiện hữu Đào Nguyên đã
trưng dẫn những bài thơ Đường ngắn nhất theo tài liệu thống kê! Cũng tương tự như
thế, tôi hiểu Nguyễn Du như một nhà thơ; trong lúc quý thiện hữu Đào Nguyên tìm
đến Nguyễn Du như một nhà Phật học.
Nhà nghiên cứu là người học võ để đi quyền.
Nghệ sĩ là người đi quyền để học võ. Khác nhau ở chỗ là bậc hữu học và
bậc vô học như ẩn dụ theo lời Phật dạy trong kinh Pháp
Hoa.
Nếu cứ mãi theo một tiến độ của ngôn ngữ thống kê đối diện với ngôn ngữ văn
chương sáng tác như thế thì e rằng, quý thiện hữu Đào Nguyên càng đưa bài viết
Cá Nghe Kinh
đi sâu vào phân tích và suy diễn, càng đưa tới tác dụng nghịch chiều. Nếu không
đến nỗi như mâu và thuẫn thì cũng chẳng mở thêm được một cánh cửa nhỏ nào hé ra
chân trời Phật đạo đang lồng lộng muôn màu muôn vẻ ngoài kia
mà tất cả chúng ta đều đang cần tới.
Trong sinh hoạt viết lách, tôi đã từng bị ghiền căn bệnh thống kê và số liệu đâu
chừng hai chục năm về trước khi viết về Phật giáo (Kính mời theo dõi trên trang
nhà: www.trankiemdoan.net)
. Nhưng khi có dịp học hỏi, tham khảo và suy niệm về yếu tính căn bản
ngôn ngữ của đạo Phật tôi mới sáng mắt ra rằng: Ngôn ngữ của đạo Phật không phải
là mẫu tự a,b,c... mà là ngôn ngữ của biểu tượng. Muốn
hiểu kinh điển nhà Phật không thể nào cứ dán mắt vào số liệu thống kê; cũng
không thể tùy tiện hiểu
theo cái hiểu cạn cợt của mình mà suy diễn.
“Y kinh liễu nghĩa tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự tức tùng ma thuyết” là
thế.
Sự sáng tạo nghiêm túc trong văn học Phật giáo quả là một hạnh phúc cho người
viết lẫn người đọc vì ngay trong nhân đã có quả. Từ bi và trí tuệ là nhân và quả hoán chuyển lẫn nhau trong nhãn quan
Phật giáo. Nhân loại không chế ra hai khẩu súng để hôn nhau và tri thức
con người không dấy động lên hai lời phản bác để hiểu nhau. Hơn mười năm trước
đây khi khởi viết tác phẩm Tu Bụi
tôi thường tham khảo ý kiến của quý Thầy, quý Sư Cô và chư thiện hữu tri thức;
và nhất là dốc tâm cầu nguyện trên mỗi 600 trang sách để cho mình đặt được cái
tâm lên trên cái trí. Nhị nguyên luận theo thói tục thị
phi, bỉ thử khen chê, thách thức... thường đưa đến hý luận vọng tâm phi Phật
giáo. Bởi vậy, khi xác định lại rằng, “cá vẫn nghe kinh” là để
thay cho một lời tác bạch mà người viết muốn nói lên ước mơ của mình. Đấy
là sự thiết tha thỉnh cầu về một nỗ lực chung của chư Tôn thiền đức và Phật tử
trong một tương lai gần nhằm thực hiện cho được Nghi Thức Tụng Niệm hằng
ngày thuần tiếng Việt, trong sáng, rõ nghĩa để sử dụng thống nhất cho tất cả tín
đồ và thân hữu của Phật giáo Việt Nam.
Sacramento, mùa An
Cư Kiết Hạ 2012
Trần Kiêm Đoàn
Nguon: trankiemdoan.net