I. Khái Niệm Pháp Trong Ấn Giáo
Pháp (Dharma) là một khái niệm được sử dụng phổ biến và có ảnh
hưởng sâu rộng trong triết học cũng như trong đời sống xã hội Ấn Độ. Khái niệm
này mang nhiều tầng nghĩa, được hiểu và giải thích từ những gốc độ khác nhau,
với đủ cả những ý nghĩa tích cực lẫn tiêu cực.
Khái
niệm Pháp có nguồn gốc từ Ṛta,
một thuật ngữ được sử dụng trong Ṛg-Veda. Khái niệm Ṛta trong Ṛg-Veda
có phần giống với khái niệm Đạo (道)
trong triết học Trung Hoa. Ṛta được hiểu như một luật tự nhiên, một năng lực nằm sau vạn sự
vạn vật, sắp đặt và điểu khiển vạn vật trong vũ trụ
theo một trật tự hoà hợp và
có quy luật. Ví dụ, sự vận hành của các mùa trong năm, sự thành trụ dị diệt của
vạn vật, sự chuyển động của các hành tinh… tất cả đều đi theo hay bị chi phối bởi một quy luật nào đó, và quy luật này được
hiểu là Ṛta. Nhưng Ṛta cũng được xem như
một luật đạo đức, là con đường mà người ta cần nên phải theo: “Hỡi đấng Indra, xin
đưa chúng con lên con đường Ṛta.” (Ṛg-Veda
10.133.6).
Ṛta được thiết lập ngang qua hành động con người, và mỗi khi người
ta xâm phạm nó là đang chống lại các vị thần như Agni, Varuṇa và Mitra. Do vì Ṛta được xem như trật tự tự nhiên và luật đạo đức, và cũng được hướng dẫn bởi thần linh, mỗi khi người ta thực hành
theo Ṛta là đang thuận theo
trật tự tự nhiên và luật đạo đức, cũng như đang vâng theo thần linh - mà được
tin “không chỉ là đấng duy trì trật tự tự nhiên mà cũng là đấng duy trì luật đạo
đức.”[1]
Ta biết rằng tế lễ giữ một vị trí then chốt trong Ṛg-Veda, và theo đó Ṛta “đã trở thành từ
đồng nghĩa với yajña (tế lễ).”[2] Trong Ṛg-Veda, mối liên hệ
giữa thần linh và con người rất mực mật thiết. Đời sống của con người được cho
là luôn có sự
theo dõi, quán sát của thần
linh. Con người phải thực hiện các bổn phận và thể hiện sự thành tâm của mình
đối với thần linh thông qua việc thực hành các tế lễ.
Tuy nhiên, con người cũng cần phải có bổn phận đối với đồng loại,
cần rèn luyện và thực hiện các đức tính như tử tế, hiếu khách, tình thương…; và
tránh làm những điều sai quấy như cờ bạc và tà dâm... Và như vậy, sống
theo Ṛta là một mặt phải tuân
theo những quy luật của tự nhiên, mặt khác phải thể hiện lòng thành kính của
mình đối với thần linh và rèn luyện những đức tính, thực hiện những việc làm tốt
và tránh làm những việc xấu. Và
bởi vì Ṛta có sự nối kết mật
thiết với thần linh, những người sống chệch khỏi nguyên tắc này sẽ nhận lãnh sự
trừng phạt từ thần linh.
Khái niệm Pháp (dharma)
và Nghiệp (karma) được hình thành từ khái niệm Ṛta này. Pháp và nghiệp giải
thích hệ thống xã hội và vị trí của con người ở trong hệ thống xã hội ấy. Trong
khi nghiệp đề cập đến hành trình của tự ngã thông qua thời gian và đưa cho cá
nhân ý nghĩa về không gian, Pháp đề cập đến con người ở đâu trong cuộc sống và
những bổn phận gắn liền với vị trí đó.
Khó có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ về khái niệm Pháp trong
triết học Ấn Độ. Từ điển Sanskrit[3] đã định nghĩa Pháp là: điều được thiết lập, sắc lệnh, đạo luật,
luật lệ không thay đổi; việc sử dụng, sự thực hành, việc tuân thủ các tập tục
hay bổn phận được quy định, quyền, sự công bằng (thường như một từ đồng nghĩa
với sự trừng phạt), phẩm hạnh, đạo đức, tôn giáo, phước đức tôn giáo, công việc
tốt…
Do có gốc từ khái niệm Ṛta, Pháp đã có những
hàm nghĩa giống với Ṛta. Căn “dhṛ” của thuật ngữ Dharma có nghĩa là nắm giữ, duy trì và chống đỡ:
“Thế giới này được duy trì nhờ Pháp” (Atharva-Veda). Vì giống với khái niệm Ṛta, Pháp vừa chỉ cho luật vũ trụ, chỉ cho một năng lực duy trì và
kiểm soát thế giới vật chất, và đồng thời cũng chỉ cho những điều mà người ta
nên làm, được định nghĩa như là luật tôn giáo, hạnh kiểm, bổn phận và trật tự xã
hội... Một người thực hành đúng Pháp, theo truyền thống Ấn giáo, là thực hành theo những gì đã được quy
định trong các thánh điển. Trong Mahabharata, thực hành Pháp là thực hành theo tám nguyên tắc: sùng kính thần linh, học hỏi, bố thí, khổ hạnh,
chân thật, tha thứ, từ mẫn và không tham lam.
Trong Upanishad, Pháp được xem là điều cao quý, nó đồng nghĩa với
sự thật. Một người nói Pháp là người nói về sự thật, và
người nói về sự thật là nói về Pháp, và “sự thực, cả hai điều này là một.” (Brh. Upanishad, 1.4.14). Và
Upanishad cũng cho rằng, chính nhờ Pháp mà một người yếu có thể kiểm soát được
một người mạnh.
Pháp ở trong ý nghĩa này rất gần với khái niệm pháp luật ở xã hội hiện đại.
Pháp được chia làm bốn loại: pháp vũ trụ (rita-dharma), pháp con
người (ashram-dharma), pháp xã hội (varana-dharma), và pháp cá nhân
(sva-dharma). Tất cả bốn pháp này cùng được gọi là Sanatana dharma.
Pháp vũ trụ bao gồm
những luật tự nhiên liên quan đến hiện tượng vật lý của vũ trụ. Pháp con người có
nghĩa là những hành động con người duy trì trật tự cá nhân, xã hội và môi
trường. Pháp xã hội là những bổn phận trách nhiệm của con người ở trong xã hội. Và pháp cá nhân bao gồm hành động cá nhân liên quan đến trách
nhiệm và bổn phận cá nhân của mỗi người.
Bốn giai đoạn (āśramas) của đời người
Ấn giáo chia đời người thành bốn giai đoạn, và việc thực hiện
tuần tự các giai đoạn này được xem là đang thực hiện theo Pháp.
Thời kỳ thứ nhất được
gọi là “brahmacharya āśramas”, giai đoạn của một người học sinh. Vào giai đoạn này,
người học sinh thân cận một vị thầy tâm linh để học tập các Vedas, các cách thức
tế lễ cũng như những tri thức cần thiết để sống trong xã hội. Giai đoạn thứ hai được gọi là “grihastha āśramas”, thời kỳ sống
đời sống gia đình.
Vào thời kỳ này, người thanh niên sẽ chọn người để kết hôn, thực hiện các bổn
phận gia đình và trách nhiệm xã hội, nuôi nấng và giáo dục con cái. Giai đoạn này sẽ kéo
dài cho đến tuổi 50. Giai đoạn thứ ba được
gọi là “vanaprastha āśramas”, và theo Luật Manu, bắt đầu khi người ta tóc ngã hoa râm. Vào thời kỳ này, người
gia chủ đi vào rừng, dành toàn bộ thời gian để nghiên tầm kinh sách, thực hành
thiền định và quán tưởng về thần linh. Giai đoạn cuối cùng được gọi là “sannyasa āśramas”, giai đoạn
người gia chủ xuất gia sống đời ẩn sĩ. Lúc này vị ấy sẽ từ bỏ
hết mọi tham muốn, sợ hãi và hy vọng, từ bỏ hết mọi trói buộc của đời sống gia
đình và xã hội. Bổn phận duy nhất vào lúc này là phải đạt được sự giải thoát
(moksha), chấm dứt luân hồi sinh tử.
Tất cả bốn giai đoạn
của đời người này đều quan trọng. Và người ta cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc và luật lệ được đặt ra cho từng giai đoạn. Việc
thực hành đúng
theo con đường này được xem
là sống đúng theo Pháp.
Bốn giai đoạn của đời người này có thể được hiểu trong xã hội
hiện đại như: giai đoạn đi học; giai đoạn lập gia đình và kiến lập sự nghiệp;
giai đoạn dành cho đời sống tâm linh, và thực hành đời sống tôn giáo miên mật để
chuẩn bị cho một đời sống mới. Nhưng hẳn nhiên đối với một người Ấn giáo, đời
sống tâm linh luôn đi cùng với cả đời người, không chỉ đợi đến hai giai đoạn sau
mới thực hiện.
Bốn mục đích của đời người (purushārthas)
Ấn giáo xem đời sống con người có bốn mục đích quan trọng, đó là
Artha, Kāma, Dharma và Moksha. Artha chỉ cho việc kiếm
tìm tài sản, danh vọng và quyền lực. Kāma chỉ cho việc tìm
kiếm niềm vui và lạc thú trong cõi đời. Dharma là nỗ lực thực
hiện đúng đắn các bổn phận, trách nhiệm, các nguyên tắc đạo đức và tôn giáo. Và Moksha là ước muốn
giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi; và đây cũng được xem là múc đích cao nhất
của đời người.
Trong bốn mục đích này,
ba thứ đầu thuộc về đời sống trần tục, và cái sau thuộc về thế giới siêu việt. Nhưng ở đây, mặc dù Pháp thuộc về thế giới trần tục, nhưng nó
cùng lúc đóng hai chức năng: vừa là nguyên tắc hướng dẫn giúp người ta không rơi
vào những điều sai quấy ở trong đời sống trần tục, và cũng là một trong những
điều kiện cần giúp người ta đạt đến giải thoát.
Luật Manu cho rằng không có hành động nào của con người thoát
khỏi sự tham muốn (kāma), và bất cứ những gì mà người ta làm là kết quả do sự
thúc đẩy của tham muốn (Manu II: 4). Tham muốn ở đây là tham muốn tài sản vật
chất, danh vọng, quyền lực cũng như những thú vui dục lạc. Và sự tham muốn này
được cho là nguyên nhân đưa đến những điều xấu ác và xung đột ở trong xã hội và
ngay bên trong nội tâm con người.
Pháp là điều hướng dẫn người ta sống trong xã hội
theo một trật tự được vạch
sẵn để tránh xung đột, và cũng giúp người ta giới hạn sự ham muốn: “Để đạt được
sự thịnh vượng và hạnh phúc, một số người cho rằng Pháp (dharma) và tài sản
(artha) là tốt. Một số người khác cho rằng tài sản và tham muốn (kāma) là tốt hơn. Vẫn có người khác cho rằng Pháp là tốt nhất. Và
cũng có người cho rằng chỉ có tham muốn là bảo đảm cho hạnh phúc. Nhưng quan điểm đúng là rằng một sự kết hợp Pháp, tài sản và tham
muốn lại mới bảo đảm sự thịnh vượng và hạnh phúc…Tuy nhiên, tham muốn và tài sản
phải bị loại trừ nếu chúng đi ngược lại pháp.” (Manu II: 224 & IV:
176).
Artha và Kāma được chấp
nhận như là điều tất yếu của đời sống, nhưng người ta phải nhận ra rằng chúng
không phải là mục đích sau cùng của đời người. Người ta cần phải vượt qua chúng để đạt đến moksha. Và Pháp khi đi cùng
với artha và kāma, sẽ giúp người ta
không chệch ra khỏi các nguyên tắc sống và cũng giúp đạt đến moksha.
Nhưng cần lưu ý thêm
rằng, trong Vedas, tế lễ mới là điều quan trọng chứ không phải moksha. Moksha được xem là mục đích quan trọng nhất bắt đầu từ Upanishad. Thêm nữa, không phải tất cả các trường phái triết học Ấn Độ đều
xem Pháp có thể giúp người ta đạt đến giải thoát. Bahagavagītā và trường
phái Mīmāṃsā
xem Pháp là yếu tố không thể thiếu cho việc đạt đến moksha. Ngược lại các trường
phái như Sāṃkhaya
và Śaṃkara Vedānta không xem
việc thực hành Pháp có thể giúp người ta đạt đến giải thoát; mà giải thoát chỉ
có thể đạt được bằng trí tuệ.
Pháp và bổn phận
Khái niệm Pháp gằn liến
với bổn phận bắt buộc được tìm thấy trong Bahagavagītā và sau đó nghiêm ngặt hơn
trong luật Manu.
Bahagavagītā đặt ra những trách nhiệm và bổn phận cho riêng từng đẳng cấp, và
việc thực hiện đúng những bổn phận dành riêng cho mình được xem là đang thực
hiện đúng theo Pháp. Và Bahagavagītā nói
rằng “Hãy để các thánh điển (sastras) giữ thẩm quyền trong việc quyết định những
gì nên làm và những gì tránh làm” (Gita-16.24). Làm theo thánh điển là thực
hành tế lễ, chấp nhận hệ thống đẳng cấp, thực hành các bổn phận của mình đúng
theo các đẳng cấp và tuỳ theo từng giai đoạn của đời người. Nơi đời sống cá
nhân, người ta phải tuân theo nhưng nguyên tắc như bất bạo động, chân thật, xả kỷ...
Vì mỗi đẳng cấp có những bổn phận riêng, nên Pháp của đẳng cấp
này sẽ khác với đẳng cấp
kia. Tuy nhiên Luật Manu
cũng đưa ra một vài nguyên tắc mà nó được xem là Pháp chung dành cho tất cả các
đẳng cấp, chẳng hạn như bất bạo động (ahimsa), chân thật (satya), không trộm cắp
(asteya), thanh sạch (shoucham), kiểm soát các giác quan (indriyanigraha)… (Manu
X: 163).
Trong Luật Manu, khái niệm Pháp phần nào bị đánh đồng với khái
niệm nghiệp: “Khi một người từ giã cõi đời này để sang thế giới khác, không cha
mẹ cũng không vợ con nào đồng hành cùng anh ta. Chỉ có “pháp” mà một người đã
thực hành sẽ
theo cùng vị ấy sau khi
chết.” (Manu 239). Và “Mỗi khi một người qua đời, thân quyến hoả thiêu thân thể
(người ấy) và (người ấy) rời bỏ gia đình. Chỉ có Pháp mà người
ấy thực hiện trong suốt cuộc đời của mình là vẫn còn lại với người ấy...” (Manu
241-242).
Ở Ấn, có những thời kỳ
người ta nhấn mạnh vào Pháp và xem việc giải thoát tinh thần như là mục đích cao
nhất của đời người. Nhưng có những thời kỳ khái niệm Pháp đã bị bóp méo, nó đi xa ý
nghĩa ban đầu và trở thành thứ áp đặt khắc nghiệt lên con người và lên các đẳng
cấp với những tính chất tàn bạo và thiếu bao dung.
Đã có những nghiên cứu
và nỗ lực nhằm làm sống lại những giá trị cốt tuỷ của Pháp. Người ta cũng đang cố gắng giải thích lại ý nghĩa của Pháp, hoặc
cố gắng đưa nó về gần lại khái niệm Ṛta. Sự thực, một số nguyên tắc cốt tuỷ của khái niệm này như chân
thật, bất bạo động, không trộm cắp, thanh sạch, thương yêu và phụng sự người
khác như bản thân… hẳn có giá trị đối với đời sống ngày nay. Toà án tối cao Ấn Độ ghi rằng: “Pháp” (Dharma) là thứ gìn giữ,
nuôi dưỡng hay chống đỡ sự bền vững của xã hội, duy trì trật tự xã hội và bảo vệ
lợi ích chung và sự tiến bộ của loài người.” Nhưng khái niệm Pháp của Ấn giáo
cũng khiến người ta liên tưởng đến những vấn đề như đẳng cấp và sati[4],… và điều này cũng gây
nên sự suy nghĩ tiêu cực cho người khác.
Nhưng trong đời sống xã hội Ấn hiện đại, hầu như người ta nghĩ
sống theo Pháp là sống có nguyên tắc, phù hợp, chuẩn mực và đúng đắn, hay nói
một cách sáo mòn là sống một đời sống hướng đến Chân - Thiện - Mỹ. Ví dụ như khi
ta viết thư than phiền về một vấn đề nào đó đã không được giải quyết nhanh
chóng, ta có thể nhận được một sự trả lời giải thích sự chậm trể đó với một từ
kết cuối cùng là “đúng theo Pháp” (in the Dharma). Và trong ngữ cảnh này, “đúng theo Pháp” có thể được hiểu là đúng với nguyên tắc. Tức rằng không
phải người ta chậm trể, mà họ đang giải quyết vấn đề
theo một trình tự có nguyên
tắc.
Ở trước chỉ là một sự
trình bày sơ lược về khái niệm Pháp trong Ấn giáo. Riêng khái niệm Pháp được hiểu như thế nào trong Phật giáo, chúng
tôi sẽ trình bày trong một bài viết khác.
Thích Nguyên Hiệp
[1] M. Hiriyamna, Outlines of Indian Philosophy, Delhi: Motilal
Banarsidass, 2005. tr. 33.
[2] S. Radahakrishnan,
Indian Philosophy, Vol. I. New Delhi, Oxford
University Press, 2008, tr. 110.
[3] M- Momonier –
Williams, A Sanskrit English Dictionary, Delhi: Motilal
Banarsidass, 2002, tr. 510.
[4] Ở Ấn Độ trước đây, ở
một vài cộng đồng theo Ấn giáo, có tục lệ
rằng khi người chồng qua đời trước, người vợ bị buộc phải lên giàn hoả thiêu
cùng với chồng, và tập tục này được gọi là sati.
Theo tập tục này, nếu người goá phụ lên giàn thiêu cùng với chồng, sẽ giúp cho
chồng thoát khỏi những tội lỗi mà ông đã gây ra khi còn sống và sẽ có một đời
sống tốt ở trong tương lai. Tập tục này kéo dài đến thế kỷ 19 thì chấm dứt, bởi do pháp luật
ngăn cấm.