Theo
truyền thuyết, rồng là loài vật linh thiêng, có thần thông, có khả năng làm mưa, phun ra khói, lửa, thăng, giáng, ẩn, hiện, biến hóa lớn nhỏ một cách tự tại. Kinh điển Phật giáo có nhiều huyền thọai về Đức Phật liên quan đến rồng, chẳng hạn như: Chín rồng phun nước tắm cho thái tử khi mới đản sinh, Rồng che mưa cho Phật, Phật hàng phục hỏa long, Long vương
nghe kinh Thập thiện, Long nữ thành Phật…
Rồng trong sự kiện đản sinh
Theo kinh
Qúa khứ hiện tại nhân quả, khi thái tử Tất đạt đa ra đời có Tứ thiên vương dùng
lụa quý của cõi trời đỡ, Trời Đại Phạm thiên và Trời Đế Thích cầm lọng báu đứng
hầu hai bên. Lúc này trên không trung có hai vị Long vương
phun hai dòng nước ấm và mát tắm cho thái tử. Kinh chép như sau: “…Lúc
mặt trời vừa mọc, bà (hòang hậu Ma Da) thấy trong vườn có một cây lớn tên là Vô
Ưu, sắc hoa rực rỡ, mùi hương thơm
ngát, cành lá bủa rất rộng rất đẹp, liền với tay phải muốn hái hoa kia.
Ngay khi đó, Bồ tát từ hông phải bước ra.
Lúc ấy,
nơi gốc cây cũng hiện ra bảy hoa sen bảy báu (thất bảo) lớn như bánh
xe. Bồ tát đứng trên hoa sen không cần người đỡ, tự đi bảy bước, đưa cánh tay phải lên, cất giọng như sư tử rống: “Trong tất cả trời
người, ta là bậc tôn quý nhất; vô lượng sinh tử, hôm nay đã chấm dứt.
Đời này ta sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh”. Vừa nói xong, bốn vị
Thiên vương lấy lụa trời đỡ lấy Thái tử, đặt trên ghế báu, Thích Đề Hòan Nhơn và
Đại Phạm Thiên Vương tay cầm bảo cái đứng hầu hai bên, Long vương Nan Đà, Long
vương Ưu Ba Nan Đà ở trên hư không phun một dòng nước ấm, một dòng nước mát
trong sạch tắm cho Thái tử. Thân Thái tử màu vàng ròng, có 32 tướng tốt, phóng
ánh sáng rực rỡ chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Tám bộ Trời, Rồng ở trên
hư không trỗi các kỹ nhạc, ca tụng khen ngợi, đốt các hương
thơm, rải nhiều hoa báu, tuôn xuống như mưa các lọai y trời và anh lạc
rực rỡ, không thể tính kể”.
Trong kinh
Đại Bổn và Vị tằng hữu pháp cũng có nói: Khi thái tử ra đời, thân không dính một
chất dơ nào từ lòng mẹ, có bốn Thiên tử đỡ rồi đặt trước Hòang hậu và thưa:
“Hòang hậu hãy hoan hỷ. Hòang hậu vừa sinh một bậc vĩ nhân”. Từ hư không có một dòng nước ấm và một dòng nước mát tắm gội cho
thái tử.
Còn trong kinh Phổ Diệu ghi rằng, lúc Thái tử đản sinh có
chín con rồng từ trên hư không phun nước xuống tắm cho thái tử. Chín vì huyền thọai chín rồng phun nước mà sau này có câu
kệ tán dương Đức Phật như sau: “Ngọc chất giáng hòang cung, cửu long phún thủy
tề mộc dục” (Bản chất thanh tịnh, trong sạch, quý báu như ngọc giáng sinh ở chốn
hòang cung, chín rồng phun nước đồng tắm cho thái tử).
Rồng che mưa cho Đức Phật
Theo Đại
Phẩm của Luật tạng, vào tuần lễ thứ ba sau khi thành đạo, khi Đức Phật ngồi
thiền định dưới gốc cây Mucalinda thì mưa to gió lớn nổi lên, một con rắn mãng
xà đến quấn quanh mình Ngài và cất cao đầu lên che mưa cho Ngài. Trong Đức Phật
và Phật pháp của Ngài Nàrada Mahà Thera (Phạm Kim Khánh dịch) ghi sự kiện này
xảy ra vào tuần thứ sáu sau khi Phật thành đạo, thời gian Đức Phật chứng nghiệm
hạnh phúc giải thóat. Trận mưa bão kéo dài suốt bảy ngày mới chấm dứt. Khi trời
quang mây tạnh, con mãng xà tháo mình trở ra và hóa hiện thành một thanh niên
chắp tay đứng trước Đức Phật. Đức Phật đã nói cho người thanh niên nghe một bài
kệ có nội dung như sau: “Đối với hạng người tri túc, đối với người đã nghe và đã
thấy chân lý thì sống ẩn dật là hạnh phúc. Trên thế gian, người có tâm lành, có
thiện chí, người biết tự kiềm chế, thu thúc lục căn đối với tất cả chúng sinh là hạnh phúc.
Không luyến ái người, vượt lên khỏi dục vọng là hạnh phúc. Phá tan được
ngã chấp quả thật là hạnh phúc tối thượng”.
Tượng Đức Phật thiền định có rồng che mưa nắng (Bồ Đề Đạo
Tràng, Ấn Độ)
Câu chuyện rắn thần che mưa cho Đức Phật khi
truyền sang Trung Hoa đã chuyển thành câu chuyện rồng thần che mưa cho Đức Phật.
Chính vì thế mà trong nhiều chùa có tranh ảnh, phù điêu khắc họa hình ảnh Đức
Phật ngồi nhập định dưới gốc cây giữa trời mưa to gió lớn, có rồng thần quấn
quanh mình và cất cao đầu che mưa cho Ngài. Trong các huyền
thọai về Đức Phật được ghi lại trong kinh điển, sau khi lưu truyền qua các nước
Trung Hoa, Việt Nam..., hình ảnh rồng thần được thay cho hình ảnh rắn thần.
Cũng như trong sự kiện trên (Rắn thần che mưa cho Đức Phật), trong sự kiện Đức
Phật hàng phục độc xà (sẽ nói ở phần sau), các kinh điển Bắc truyền ghi lại hình ảnh
một con hỏa long (rồng lửa) thay vì là một con rắn độc. Đối với người Ấn Độ thì
rắn là con vật thiêng liêng trong khi ở các nước Trung Hoa, Việt Nam thì rồng là
linh vật.
Phật hàng phục hỏa long
Trong kinh
Qúa khứ hiện tại nhân quả có thuật lại rằng: Đức Phật muốn hóa độ ba anh em ông
Ưu lâu tần loa Ca diếp và các đệ tử của họ, bèn đi đến bờ sông Hằng, nơi họ và
các đệ tử trú ngụ.
Khi Đức
Phật đến nơi thì trời đã tối, Ngài bèn hỏi ông Ca diếp: “Tôi đi lỡ đường, xin
ông cho tôi nghỉ nhờ một đêm”. Ông Ca diếp từ chối: “Rất tiếc, ở đây đồ chúng
quá đông, không có chỗ nào để mời Ngài nghỉ lại”. Đức Phật nói: “Chỗ nào cũng
được. Tôi chỉ xin nghỉ nhờ một đêm thôi”. Ông Ca diếp
bèn chỉ về phía một hang động gần đó rồi bảo: “Nơi kia có thể nghỉ tạm được.
Tiếc rằng trong đó có một con hỏa long rất dữ, người lạ vào e bị nó làm hại”.
Đức Phật nói: “Không sao đâu. “Ngã nội thanh tịnh, ngọai tai bất nhập”(Bên trong ta thanh tịnh, tai họa bên ngòai không xâm hại
được. Xin ông vui lòng để tôi ở lại nơi đó”.

Đức Phật
vào trong hang động, hỏa long nghe hơi lạ bèn bay ra, phun khói độc vào Ngài.
Nhưng khi khói độc gần đến chỗ Phật thì bay ngược trở lại. Hỏa
long bèn phun lửa, nhưng khi lửa gần đến chỗ Phật thì cháy ngược trở lại hỏa
long.
Đức Phật bèn nhập định Hỏa quang tam muội hóa lửa cháy sáng cả hang động, lửa
của hỏa long bị đẩy lùi. Đức Phật từ bi bảo với nó: “Ngươi đã thấy phép thuật
của ngươi còn thấp kém chưa?” Đức Phật bèn đưa bình bát ra và nói: “Ngươi
hãy vào đây để tránh lửa”. Hỏa long vội thu mình bay
vào trong bát của Đức Phật.
Về sau, ba
anh em ông Ca diếp và các đồ chúng nhận thấy thần lực và đức độ của Đức Phật
không ai sánh bằng, họ đã xin quy y theo Phật.
Long nữ thành Phật
Trong kinh
Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm thứ 12 Đề Bà Đạt Đa có nói sự kiện Long nữ, con gái
Long vương thành Phật như sau:
“Lúc bấy giờ, Bồ tát Trí Tích, thị giả của Phật Đa Bảo bạch
xin phép Phật Đa Bảo trở về nước. Đức Phật Thích Ca mới bảo Bồ tát Trí Tích: “Thiện nam tử,
hãy chờ giây lát. Ở đây có Bồ tát Văn Thù, ông và Văn Thù có thể cùng nhau ra mắt mà
luận nói pháp mầu, xong rồi sẽ về”.
Ngay khi ấy, Bồ tát Văn Thù và các Bồ tát tùy
tùng ngồi trên hoa sen lớn, từ nơi cung Rồng (Long cung) Ta kiệt la trong biển
lớn bay lên hư không, rồi bay đến núi Linh Thứu, từ hoa sen bước xuống, đảnh lễ
Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca, kế đến hỏi thăm Bồ tát Trí Tích, sau đó ngồi qua
một bên.
Bồ tát Trí
Tích bèn hỏi Bồ tát Văn Thù: “Ngài qua cung Rồng hóa độ được bao nhiêu chúng
sinh?” Bồ tát Văn Thù đáp: “Vô lượng. Nếu Ngài không tin, sẽ
tự chứng biết”.
Bồ tát Văn
Thù nói chưa dứt lời thì có vô số Bồ tát ngồi hoa sen từ biển bay lên đến núi
Linh Thứu, trụ trên hư không, tất cả đều do Bồ tát Văn Thù hóa độ. Bồ tát Văn
Thù nói: “Ở biển, ta thường tuyên thuyết kinh Diệu Pháp”. Bồ tát Trí Tích hỏi:
“Kinh này rất thâm diệu. Vậy có chúng sinh nào siêng tu theo
kinh này mà mau thành Phật không?” Bồ tát Văn Thù đáp: “Có con gái của Long
vương, mới lên tám tuổi mà đầy đủ trí đức, trong khỏanh khắc phát Bồ đề tâm,
được bậc bất thối chuyển, biện tài vô ngại, từ bi rộng lớn, công đức đầy đủ, có
khả năng đến Bồ đề”.
Bồ tát Trí
Tích không tin hỏi: “Chính Đức Phật Thích Ca còn phải trải qua vô lượng kiếp tu
tạo nhiều công đức, làm những hạnh khó làm mới thành đạo Bồ đề, làm sao tin được
Long nữ trong chốc lát mà chứng thành Chánh giác”.
Đàm luận
chưa xong, Long nữ bỗng hiện ra, cung kính đảnh lễ Phật rồi đứng qua một bên,
nói kệ xưng tán pháp thân và cho biết nhờ nghe được diệu pháp mà nàng đã thành
Bồ đề, nhưng việc này chỉ Phật chứng biết mà thôi.
Bấy giờ
Tôn giả Xá Lợi Phất nói với Long nữ: “Thân gái nhơ uế, có năm điều chướng ngại,
còn con đường Phật đạo xa diệu vợi, phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ mới đi
hết, mà ngươi nói tu không bao lâu đã chứng được vô thượng Chánh giác.
Làm sao tin được?” Long nữ bèn lấy một hạt châu hiến dâng Đức Phật Thích Ca, Đức Phật
thọ nhận. Bấy giờ Long nữ hỏi Bồ tát Trí Tích: “Tôi hiến châu, Thế Tôn
nhận lấy, việc ấy có mau chăng?” Bồ tát Trí Tích đáp: “Mau”. Bấy giờ Long nữ nói:
“Ông hãy lấy thần lực của ông xem đây, tôi thành Phật còn mau hơn việc đó”.
Chúng
hội liền thấy Long nữ thọat nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ tát, qua cõi Vô
cấu phương nam, ngồi hoa sen báu, thành bậc Đẳng Chánh giác”.
Câu chuyện
Long nữ thành Phật có ý nghĩa cao sâu: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, dù là
lòai nào, nam, nữ, già, trẻ, bé, lớn đều có khả năng thành Phật nếu như đầy đủ
trí tuệ và công đức phước báu, tu hành không thối chuyển, có tâm từ bi rộng lớn,
có vô ngại biện tài. Cũng như Long nữ vốn là lòai rồng (súc sinh), lại mang thân
nữ, chỉ mới tám tuổi thôi, nhưng nhờ tu tập, tích chứa công đức phước báu, có
tâm tánh, ý chí của bậc nam nhi trượng phu quân tử (Long nữ biến thành thân nam),
hội đủ điều kiện nhân duyên (thành tựu Lục độ vạn hạnh, chứng đạt tâm thanh tịnh,
sạch vô minh phiền não (qua cõi Vô cấu) mà Long nữ đã thành bậc Đẳng Chánh giác.
Theo kinh
điển Phật giáo, Rồng là một trong Tám bộ chúng thường theo ủng hộ Phật pháp (Thiên
long bát bộ): Thiên (Trời), Long (Rồng), Dạ xoa (Thần Dạ xoa, quỷ Dạ xoa), Kiền
thát bà (Thần âm nhạc ở cõi trời, thường tấu thiên nhạc hầu vua trời Đế Thích),
A tu la (Phi thiên, các chúng sinh này có phước báu như chư thiên nhưng kém đức,
tâm thường sân hận và ưa tranh đấu), Ca lâu la (Kim sí điểu, lòai chim cánh vàng),
Khẩn na la (Nhơn phi nhơn, hình dáng giống con người nhưng chẳng phải người, là
vị thần đánh pháp nhạc cho trời Đế Thích nghe), Ma hầu la già (Thần mình người
đầu rắn, bụng to). Trong các thời pháp của Đức Phật đều có sự tham dự của hàng Thiên
long bát bộ.
Phan Minh
Đức