Bảy tuần sau khi Đức Thế Tôn thành đạo

bay tuan

Thích Thái Hòa

 

 

Sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn không vội chuyển vận pháp luân. Ngài đã dành bảy tuần để chiêm nghiệm sâu vào đạo lý mà Ngài vừa chứng ngộ.

*Tuần thứ nhất:

Ngài ngồi yên lắng để cảm nhận niềm vui hạnh phúc, sau đó đêm cuối tuần Ngài mới bắt đầu quán chiếu sâu vào nguyên lý Mười hai duyên khởi.

Đầu tiên, Ngài quán chiếu nguyên lý Mười hai duyên khởi từ dưới lên và từ trên xuống.

Ngài ghi nhận và thấy rõ rằng : " Do cái này sanh, nên cái kia sanh. Do duyên vô minh mà có các hành, do duyên các hành mà có thức; cho đến do duyên sanh mà có lão tử"

Thấy rõ ràng như vậy xong, Đức Thế Tôn tự nói bài kệ:

"Bậc Thánh nhìn các pháp

Sanh khởi do tương quan

Thấy pháp tương quan sinh

Pháp do nhân duyên có"

Vào nửa đêm, đức Thế Tôn quán chiếu tiếp mười hai Duyên khởi từ đầu đến cuối, từ thuận đến nghịch. Ngài ghi nhận và thấy rõ rằng: "Do không có cái này nên không có cái kia. Do cái kia diệt nên cái này diệt. Do vô minh diệt nên hành diệt, cho đến sanh diệt nên lão tử diệt".

Thấy rõ ràng như vậy xong, đức Thế Tôn nói bài kệ:

“Bậc Thánh nhìn các pháp

Sanh khởi do tương quan

Thấy pháp tương quan sanh

Diệt từ nhân duyên diệt”.

Vào cuối đêm, đức Thế Tôn quán chiếu tiếp mười hai Duyên khởi, từ đầu đến cuối, từ cuối đến đầu.

Ngài ghi nhận và thấy rõ ràng: "Cái này sanh nên cái kia sanh, cái này không có nên cái kia không có. Do cái này diệt nên cái kia diệt. Do vô minh duyên hành, cho đến sanh duyên lão tử, chúng đều tương quan sanh khởi. Nếu vô minh không có thì hành không có, cho đến sanh không có thì lão tử không có. Nếu vô minh diệt thì hành diệt cho đến sanh diệt thì lão tử diệt".

Quán chiếu và thấy rõ ràng như vậy xong, đức Thế Tôn tự nói bài kệ:

“Bậc Thánh nhìn cuộc đời

Thấy tương quan sanh diệt

Tà kiến rã tan tành

Mặt trời tỏa không trung”.

* Tuần thứ hai:

Sau khi quán chiếu nguyên lý mười hai Duyên khởi xong, đức Thế Tôn đứng dậy rời khỏi cây Pippāla không xa, ngồi xuống với tư thế hoa sen, xây mặt vào cây Pippāla, lấy cây Pippāla làm đối tượng quán chiếu suốt bảy ngày, sau đó Ngài nhìn cây Pippāla mỉm cười và nói:

“Chính ở đây, ta đặt gánh nặng sanh tử xuống. Ta chấm dứt vô biên ngằn mé của khổ đau”.

* Tuần thứ ba:

Đức Thế Tôn rời cây Pippāla đến kinh hành và ngồi kiết già dưới cây Ma-lê-chi, trải qua bảy ngày cảm nhận niềm vui của giải thoát ở trong thiền định. Và sau khi Ngài xuất định, có Đại Long Vương tên là Kala đến đảnh lễ đức Thế Tôn và thưa:

"Bạch đức Thế Tôn! Cung điện này của con, xưa con đã từng cúng dường chư Phật quá khứ, các Ngài Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni và Ca Diếp vì thương con nên đã thọ nhận, và các Ngài đều đã có an trú trong cung điện này. Nay, đức Thế Tôn là vị thứ tư, xin Ngài hãy thọ nhận sự cúng dường cung điện của con, để cho con được đầy đủ công đức từ bốn đức Thế Tôn.

Bấy giờ đức Thế Tôn hoan hỷ thọ nhận cung điện của Đại Long Vương Kala.

* Tuần thứ tư:

Đức Thế Tôn ngồi thiền định ở trong cung điện của Đại Long Vương Kala cúng dường trải qua bảy ngày để cảm nhận niềm vui giải thoát.

Sau đó Ngài xuất định và gọi Long Vương đến bên cạnh, truyền trao ba pháp quy y và năm giới cấm.

Đại Long Vương là vị thọ tam quy, ngũ giới làm Ưu Bà Tắc đầu tiên của các loài súc sanh trong thế gian.

Bấy giờ cũng có một Long Vương tên là Mucalinda (Mục Chơn Lân Đà) hướng đến đức Thế Tôn đảnh lễ và thưa:

"Bạch đức Thế Tôn! Cung điện này là của con, xưa con đã từng cúng dường chư Phật quá khứ, các Ngài Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni và Ca Diếp, các Ngài đã vì thương con mà thọ nhận đều có an trú trong cung điện này.

Nay đức Thế Tôn là vị thứ tư, xin Ngài hãy thọ nhận sự cúng dường cung điện của con, để con có đầy đủ công đức và lợi ích lớn từ bốn đức Thế Tôn".

* Tuần thứ năm:

Sau khi đức Thế Tôn thọ nhận sự cúng dường cung điện của Long Vương Mucalinda (Mục Chơn Lân Đà) xong, Ngài ngồi yên lắng đi vào thiền định bảy ngày bất động để cảm nhận sâu niềm vui giải thoát.

Trong bảy ngày đó, trời đất giông bão sấm sét, mưa gió nổi lên liên tục.

Bấy giờ Long Vương Mucalinda từ cung điện hiện ra, dùng đại thân quấn bảy vòng che thân của Đức Thế Tôn, và hiện ra bảy cái đầu làm thành cái lọng che trên đầu của Đức Thế Tôn.

Sau bảy ngày trời đất trở lại yên ắng, Long Vương thâu thân trở lại hiện ra một chàng thiếu niên Bà La Môn đến trước Đức Thế Tôn chấp tay và bạch:

"Bạch Đức Thế Tôn! Con không sợ Như Lai bị quấy nhiễu, con chỉ sợ rét lạnh, nước mưa bụi bặm, muỗi mòng xúc phạm lên thân thể của Như Lai, nên con hiện ra thân thể bảy đầu để hộ trì Như Lai đó thôi!"

Nhân đó, Đức Thế Tôn nói bài kệ:

"Lặng yên, biết đủ vui tối thượng

Biết đủ nhìn sâu hết thảy pháp

Thế gian an lạc không não hại

Chúng sanh không hại đều an lạc

Người được an lạc ở trong đời

Hết thảy tham dục đều xa lìa

Bản tâm kiêu ngạo đều buông sạch

An lạc nào hơn an lạc này

Bao nhiêu dục lạc ở trong đời

Bon chen cho lắm cũng hoàn không

Hạnh phúc nớ này đem so sánh

Mười sáu phần không được một ty đầu!

Sau khi nói bài kệ này xong, Đức Thế Tôn truyền pháp Tam tự quy y và Ngũ giới cho Mucalinda Long Vương

* Tuần thứ sáu:

Đức Thế Tôn nhận lời thỉnh cầu của Đại Đức Uy Lực Thei6n Tử, Ngài đến ngồi dưới gốc cây Ni câu đà, do vị đó ngày trước, khi còn là em bé chăn dê trồng. Em bé này là người cúng sữa và mè cho Đức Thế Tôn khi chưa thành đạo, Ngài đang tu khổ hạnh tại Khổ hạnh lâm.

Do phước báu đó, nên chẳng bao lâu em bé đó kết thúc mạng sống và sinh lên cõi Trời tam thập tam làm vị Đại Đức Uy Lực Thiên Tử.

Nay vị ấy biết Đức Thế Tôn đã thành đạo nên liền dùng năng lực ánh sáng của chư Thiên, xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin cúng dường và thỉnh Ngài đến ngồi dưới gốc cây Ni Câu Đà.

Đức Thế Tôn đã đến cây Ni Câu Đà ngồi yên lắng bảy ngày trong định, cảm nhận sâu về niềm vui giải thoát

Sau bảy ngày từ thiền định khởi dậy, Đức Thế Tôn gọi Đại Đức Uy Lực Thiên Tử đến và bảo:

"Ngươi hãy lãnh thọ Tam tự quy y và ngũ giới để có được hạnh phúc an lạc lâu dài"

Sau đó vị Thiên tử vâng hành Đức Thế Tôn thọ trì Tam quy y và Ngũ giới.

Như vậy Đại Đức Uy Lực Thiên Tử là vị Thiên Tử thọ trì Ưu Bà Tắc giới đầu tiên trong hàng chư Thiên, sau Đức Thế Tôn thành đạo

*Tuần thứ bảy:

Từ cây Ni Câu Đà, Đức Thế Tôn bước đến cây Sai Lê Ni Ma, ngồi tại đây 7 ngày để chiêm nghiệm sâu niềm vui giải thoát.

Sau khi xuất định, Ngài đã được Tứ Thiên Vương dâng Bát cúng dường và Ngài cũng đã nhận tặng phẩm sữa cùng với đề hồ đầu tiên từ hai vị thương gia là Tapassu và Bhallika dâng cúng.

Đức Thế Tôn đã dạy Pháp Tam Tự quy y và truyền Pháp tam tự quy y cùng Ngũ giới cho hai vị thương gia.

Như vậy, hai vị thương gia Tapassu và Bhallika là đệ tử Ưu Bà Tắc đầu tiên của Đức Thế Tôn trong thế giới loài người.

(Trích từ Niềm tin bất hoại đối với Đức Phật - Thích Thái Hòa)

 

Chia sẻ: facebooktwittergoogle
Các bài viết khác