Hòa thượng Chơn Như khai sơn chùa
Đông Lâm và Báo Ân
Xuất thân:
Hòa thượng xuất thân trong một gia đình khoa bảng, thế danh Nguyễn
Tấn Thuyên, sinh năm Đinh Hợi, 1889, tại làng Vĩnh Xương, quận Hương Điền, tỉnh
Thừa Thiên. Hiện nay là làng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Thân sinh là cụ Nguyễn Tấn Thành, chủ sự hội vụ
thí sinh.
Thân mẫu là cụ bà Phan Thị Thanh.
Hai ông bà có truyền thống đạo Phật lâu đời, có nếp sống thanh nhã, sinh hạ được
ba người con: hai trai và một gái, Hòa thượng là người con trai đầu.
Năm lên tám tuổi, Hòa thượng được song thân cho
theo học chữ Nho học với các bậc sĩ phu trong làng.
Năm 18 tuổi, Hòa thượng thi tú tài. Đường khoa bảng đến đây trở ngại, Hòa thượng
phải trở về dùi kinh mài sử
để đợi ngày rồng mây gặp hội.
Trong thời gian này, Hòa thượng đã có lần cảm nhận được câu chuyện
“Hoàng lương mộng” của Lữ Sinh đời Đường, rồi thấm thía rằng, danh vọng chỉ là
gợn nắng trưa hè, giàu sang như ráng chớp, ân ái như tơ tằm tự ràng, tự buộc.
Do những cảm nhận này, mà Hòa thượng bắt đầu chuyển sang hướng đi
siêu việt giải thoát.
Chí nguyện thoát tục:
Có lẽ do túc duyên với Phật pháp đã có từ đời trước, nên khi chuyển
đổi cách nhìn, Hòa thượng ngày đêm tự mình nghiên cứu học hỏi sách Phật, và đã
thấm nhuần giáo lý căn bản của đạo Phật rất nhanh.
Năm 20 tuổi, Hòa thượng từ biệt gia đình, khăn gói lên đường, đến
kinh đô Huế bái yết Hòa thượng Huệ Minh, chùa Từ Hiếu để xin xuất gia.
Hòa thượng Huệ Minh thấy phong thái thư sinh, cốt cách đĩnh đạc, liền hỏi:
Ông xuất gia để cầu gì?
Hòa thượng trả lời: Con xuất gia để cầu làm Phật.
Ngài Huệ Minh nói: Phật ở đâu mà cầu.
Hòa thượng trả lời: Phật nơi tâm con.
Ngài Huệ Minh nói: Ông đã biết như vậy, sao còn
cầu làm Phật để làm gì.
Hòa thượng thưa:
Dẫu con biết rằng, Phật ở tâm con, vốn thật lìa tâm không có Phật. Nhưng nay con
chưa biết con đường nào để đoạn vọng quy chơn, nên cúi
mong Thầy hứa khả cho con được xuất gia học đạo.
Ngài Huệ Minh thấy người học trò có chí lớn, có
nhiều túc duyên trong Phật pháp, nên liền nhận cho xuất gia làm đệ tử.
Tu học và hoằng pháp:
Sau khi được xuất gia, Hòa thượng rất tinh cần
trong việc học, tu tập.
Năm, Mậu Thân, 1908, Hòa thượng đã được Ngài Huệ
Minh truyền thọ Sa-di giới, với pháp danh là Trừng Nguyên, pháp tự Quang Hiệp.
Vốn đã có chí nguyện siêu tục, xu hướng nhất thừa, nên kể từ khi
được Bổn sư truyền trao giới pháp, Hòa thượng ngày đêm vâng giữ hành trì, siêng
năng học hỏi Phật lý làm cho tuệ nghiệp mỗi ngày mỗi sáng, đức hạnh mỗi lúc mỗi
nhuần.
Năm Canh Tuất, 1910, Hòa thượng được Bổn sư cho thọ tỷ-kheo Bồ-tát
giới; đại giới đàn được tổ chức tại chùa Phước Lâm, Hội An, do Ngài Vĩnh Gia làm
Đàn đầu, Ngài Tâm Truyền ở chùa Báo Quốc, Huế làm Yết ma. Năm
này, Hòa thượng 21 tuổi.
Và cũng chính trong năm này, Hòa thượng đã được Bổn sư ban cho pháp
hiệu là Chơn Như, với bài kệ đắc pháp :
"Chơn như thiệt tướng bản như như, thể dụng toàn chương nhất phái chư, phóng khứ
thâu lai vô biệt vật, tùng tri xúc xứ tự phi cừ". Ngài Huệ Minh ban cho Hòa
thượng pháp hiệu Chơn Như với hàm ý khen ngợi rằng, công hạnh tu học của Hòa
thượng rất khế hợp với chí nguyện ban đầu, tức là chí nguyện làm Phật.
Thọ đại giới xong, Hòa thượng được Bổn sư chỉ dạy
giới luật trong một thời gian khá lâu.
Năm Ất Mão, 1915, Hòa thượng khai sơn chùa Đông
Lâm, Huế (thuộc xã Thủy Xuân, Tp Huế).
Năm Nhâm Tuất, 1922, Hòa thượng theo học lớp Cao đẳng Phật học với
Ngài Huệ Pháp tại chùa Thiên Hưng, Huế, và Ngài Phước Huệ, chùa Thập Tháp, Bình
Định.
Năm Canh Ngọ, 1930, Hòa thượng khai sơn chùa Báo
Ân, Huế.
Năm Giáp Tuất, 1934, Hòa thượng làm Đệ tứ tôn chứng tại giới đàn
Thạch Sơn, Quảng Ngãi.
Năm Mậu Dần, 1938, Hòa thượng nhận lời mời của
Phật tử Việt kiều tại Lào đến Savanakhet và Viêng-chăn để thăm viếng và hoằng
pháp.
Năm Kỷ Mão, 1939, Hòa thượng trở về chùa Báo
Ân, tiếp tục sứ mệnh hoằng pháp, dìu dắt Tăng Ni và tín đồ tu tập, hướng
đến giác ngộ, giải thoát.
Trong công hạnh tu tập,
hoằng pháp, Hòa thượng kết hợp cả Thiền tông, Tịnh độ và Mật giáo.
Thiền và Tịnh là để kiến
tánh thành Phật, còn Mật giáo là để nhiếp hóa quần cơ, khiến những kẻ ương ngạnh
phải hồi đầu Phật pháp.
Bởi vậy, trong sự nghiệp
hoằng pháp, Hòa thượng đã nhiếp hóa được tất cả mọi căn cơ.
Đồ chúng xuất gia, Ngài
đã giáo hóa rất nhiều, tuy nhiên, chỉ còn lại một số quý vị kế thừa như tỷ-kheo
Thích Quảng Tuyên, Thích Chánh Trí, Thích Đảnh Lễ...
Phật tử tại gia được Hòa
thượng làm Bổn sư truyền giới không phải là ít.
Những ngày cuối cùng:
Báo thân được hình thành
do sự kết hợp bởi ngũ uẩn, nên sanh-lão-bệnh-tử là điều ắt phải có đối với pháp
hữu vi.
Mùa hạ năm Mậu Tý, 1948,
Hòa thượng thị tịch lúc 3 giờ ngày 04 tháng 05, trụ thế 59 năm, với 38 Hạ lạp,
thuộc đời 42, phái thiền Lâm Tế.
Bảo tháp của Ngài hiện
được tôn trí tại đồi thông chùa Từ Hiếu, Huế.
Hòa thượng xuất thân
trong một gia đình khoa bảng, thế danh Nguyễn Tấn Thuyên, sinh năm Đinh Hợi,
1889, tại làng Vĩnh Xương, quận Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên.
Hiện nay là làng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Thân sinh là cụ Nguyễn
Tấn Thành, chủ sự hội vụ thí sinh.
Thân mẫu là cụ bà Phan
Thị Thanh. Hai ông bà có truyền thống đạo Phật lâu đời, có
nếp sống thanh nhã, sinh hạ được ba người con: hai trai và một gái, Hòa thượng
là người con trai đầu.
Năm lên tám tuổi, Hòa thượng được song thân cho
theo
học chữ Nho học với các bậc sĩ phu trong làng.
Năm 18 tuổi, Hòa thượng
thi tú tài. Đường khoa bảng đến đây trở
ngại, Hòa thượng phải trở về dùi kinh mài
sử để đợi ngày rồng mây gặp hội.
Trong thời gian này, Hòa thượng đã có lần cảm
nhận được câu chuyện “Hoàng lương mộng” của Lữ Sinh đời Đường, rồi thấm thía
rằng, danh vọng chỉ là gợn nắng trưa hè, giàu sang như ráng chớp, ân ái như tơ
tằm tự ràng, tự buộc.
Do những cảm nhận này, mà Hòa thượng bắt đầu
chuyển sang hướng đi siêu việt giải thoát.
Chí nguyện thoát tục:
Có lẽ do túc duyên với Phật pháp đã có từ đời
trước, nên khi chuyển đổi cách nhìn, Hòa thượng ngày đêm tự mình nghiên cứu học
hỏi sách Phật, và đã thấm nhuần giáo lý căn bản của đạo Phật rất nhanh.
Năm 20 tuổi, Hòa thượng từ biệt gia đình, khăn
gói lên đường, đến kinh đô Huế bái yết Hòa thượng Huệ Minh, chùa Từ Hiếu để xin
xuất gia.
Hòa thượng Huệ Minh thấy phong thái
thư sinh, cốt cách đĩnh đạc, liền hỏi:
Ông xuất gia để cầu gì?
Hòa thượng trả lời: Con xuất gia để cầu làm Phật.
Ngài Huệ Minh nói: Phật ở đâu mà cầu.
Hòa thượng trả lời: Phật nơi tâm con.
Ngài Huệ Minh nói: Ông đã biết như vậy, sao còn
cầu làm Phật để làm gì.
Hòa thượng thưa:
Dẫu con biết rằng, Phật ở tâm con, vốn thật lìa tâm không có Phật. Nhưng nay con
chưa biết con đường nào để đoạn vọng quy chơn, nên cúi
mong Thầy hứa khả cho con được xuất gia học đạo.
Ngài Huệ Minh thấy người
học trò có chí lớn, có nhiều túc duyên trong Phật pháp, nên liền nhận cho xuất
gia làm đệ tử.
Tu học và hoằng pháp:
Sau khi được xuất gia,
Hòa thượng rất tinh cần trong việc học, tu tập.
Năm, Mậu Thân, 1908, Hòa
thượng đã được Ngài Huệ Minh truyền thọ Sa-di giới, với pháp danh là Trừng
Nguyên, pháp tự Quang Hiệp.
Vốn đã có chí nguyện siêu tục, xu hướng nhất
thừa, nên kể từ khi được Bổn sư truyền trao giới pháp, Hòa thượng ngày đêm vâng
giữ hành trì, siêng năng học hỏi Phật lý làm cho tuệ nghiệp mỗi ngày mỗi sáng,
đức hạnh mỗi lúc mỗi nhuần.
Năm Canh Tuất, 1910, Hòa thượng được Bổn sư cho
thọ tỷ-kheo Bồ-tát giới; đại giới đàn được tổ chức tại chùa Phước Lâm, Hội An,
do Ngài Vĩnh Gia làm Đàn đầu, Ngài Tâm Truyền ở chùa Báo Quốc, Huế làm Yết ma. Năm này, Hòa thượng 21 tuổi.
Và cũng chính trong năm này, Hòa thượng đã được
Bổn sư ban cho pháp hiệu là Chơn Như, với bài kệ đắc pháp : "Chơn như thiệt
tướng bản như như, thể dụng toàn chương nhất phái chư, phóng khứ thâu lai vô
biệt vật, tùng tri xúc xứ tự phi cừ".
Ngài Huệ Minh ban cho Hòa thượng pháp hiệu Chơn Như với hàm ý khen ngợi
rằng, công hạnh tu học của Hòa thượng rất khế hợp với chí nguyện ban đầu, tức là
chí nguyện làm Phật.
Thọ đại giới xong, Hòa
thượng được Bổn sư chỉ dạy giới luật trong một thời gian khá lâu.
Năm Ất Mão, 1915, Hòa
thượng khai sơn chùa Đông Lâm, Huế (thuộc xã Thủy Xuân, Tp Huế).
Năm Nhâm Tuất, 1922, Hòa thượng theo học lớp Cao
đẳng Phật học với Ngài Huệ Pháp tại chùa Thiên Hưng, Huế, và Ngài Phước Huệ,
chùa Thập Tháp, Bình Định.
Năm Canh Ngọ, 1930, Hòa thượng khai sơn chùa Báo
Ân, Huế.
Năm Giáp Tuất, 1934, Hòa thượng làm Đệ tứ tôn
chứng tại giới đàn Thạch Sơn, Quảng Ngãi.
Năm Mậu Dần, 1938, Hòa thượng nhận lời mời của
Phật tử Việt kiều tại Lào đến Savanakhet và Viêng-chăn để thăm viếng và hoằng
pháp.
Năm Kỷ Mão, 1939, Hòa thượng trở về chùa Báo
Ân, tiếp tục sứ mệnh hoằng pháp, dìu dắt Tăng Ni và tín đồ tu tập, hướng
đến giác ngộ, giải thoát.
Trong công hạnh tu tập,
hoằng pháp, Hòa thượng kết hợp cả Thiền tông, Tịnh độ và Mật giáo.
Thiền và Tịnh là để kiến
tánh thành Phật, còn Mật giáo là để nhiếp hóa quần cơ, khiến những kẻ ương ngạnh
phải hồi đầu Phật pháp.
Bởi vậy, trong sự nghiệp
hoằng pháp, Hòa thượng đã nhiếp hóa được tất cả mọi căn cơ.
Đồ chúng xuất gia, Ngài đã giáo hóa rất nhiều,
tuy nhiên, chỉ còn lại một số quý vị kế thừa như tỷ-kheo Thích Quảng Tuyên,
Thích Chánh Trí, Thích Đảnh Lễ...
Phật tử tại gia được Hòa
thượng làm Bổn sư truyền giới không phải là ít.
Những ngày cuối cùng:
Báo thân được hình thành do sự kết hợp bởi
ngũ
uẩn, nên sanh-lão-bệnh-tử là điều ắt phải có đối với pháp hữu vi.
Mùa hạ năm Mậu Tý, 1948, Hòa thượng thị tịch lúc
3 giờ ngày 04 tháng 05, trụ thế 59 năm, với 38 Hạ lạp, thuộc đời 42, phái thiền
Lâm Tế.
Bảo tháp của Ngài hiện
được tôn trí tại đồi thông chùa Từ Hiếu, Huế
Hình ảnh chùa Báo Ân, phường
An Cựu, Tp Huế
ảnh: HP



