THÍCH NHUẬN CHÂU
biên
dịch
A-la-hán
là những vị đã đạt đến mức độ tâm chứng cao nhất trong pháp tu tập của Thanh văn
thừa. Khi đạt đến cảnh giới nầy, mọi phiền não đều
được tiêu trừ, không còn luân hồi sinh tử nữa.
Tuy nhiên, theo Thành Duy thức luận (s: Vijñaptimātratā-siddhi-śāstra; c:
Cheng weishi lun), do ngài Huyền Trang soạn năm 659, thì A-la-hán là bậc
đã đạt được trí huệ viên mãn, vượt trên các hàng vô học trong Tam thừa: Thanh
văn (s: śrāvaka), Bích chi (s: pratyeka) hoặc là Duyên giác (c: yuanjue),
thuộc Tiểu thừa; và Bồ-tát (s: Bodhisattva), th
uộc Đại thừa. Do vậy A-la-hán là một tên gọi khác của Phật
quả, là một trong 10 danh hiệu của đức Phật.
Theo kinh điển nguyên
thủy, thời đức Phật Thích-ca Mâu-ni tại thế, vốn chỉ có bốn vị Đại-la-hán phát
nguyện lưu lại thế gian để hoằng truyền Phật pháp, mỗi vị ở mỗi phương: Đông,
Tây, Nam, Bắc. Nhưng các kinh điển về sau dần dần thêm vào cho đến 16 vị, phần
lớn các vị ấy vẫn không có tên. Mãi cho đến đời Đường, khi ngài Huyền Trang
thỉnh kinh ở Ấn Độ về và dịch cuốn Pháp trụ ký
(c: Fa zhuji ) vào năm 654, mọi người mới biết
đến có 16 vị A-la-hán và danh tánh của từng vị.
Đó là:
1.
Tân-đầu-lô-bạt-la-đoạ-xà (s: Piṇḍolabbaradvāja)
2. Ca-nặc-ca-phạt-ta
(s: Kanakavatsa)
3. Ca-nặc-ca-bạt-ly-đoạ-xà
(s: Kanakabharadvāja)
4. Tô-tần-đà (s:Subinda)
5. Nặc-cự-la (s:
Nakula)
6. Bạt-đà-la (s:
Bhadra)
7. Ca lý ca (s:Kālika)
8. Bạt xà la phất đa la (s:Vajraputra)
9. Thú-bác-ca (s:
Jīvaka)
10. Bán-thác-ca (s:
Panthaka)
11. La-hỗ-la (s:
Rāhula)
12. Na-già-tê-na (s:
Nāgasena)
13. Nhân-yết-đà (s: Aṅgaja)
14. Phạt-na-bà-tư(s:
Vanavasin)
15. A-thị-đa (s: Ajita)
16. Chú-đồ-bán-thác-ca
(s: Cūḍapantbaka)
Điều
nầy cũng có ghi trong Nhập Đại thừa luận quyển thượng, Đại minh Tam tạng
pháp số quyển 45, Thiền lâm tượng khí tiên linh tượng môn.
Từ đó chư Tăng
Trung Hoa mới bắt đầu thờ phụng 16 vị A-la-hán và tranh tượng vẽ hình các vị với
nhiều dáng dấp, với nhiều kiểu trang phục của Tăng sĩ Trung Hoa xuất hiện khắp
nơi. Chẳng hạn, tương truyền Vương Duy (c: Wang Wei ;
701-761) đã vẽ 48 bức tranh về 16 vị A-la-hán, và những bức tranh của Lu Lengjia,
sống vào khoảng năm 730-760, đã trở nên nổi tiếng trong suốt đời Đường. Tượng
tạc 16 vị A-la-hán ở Động Vân Hà (c: Yanxiadong ; e: Clouds and Mist Grotto),
Hàng Châu đã được đánh giá rất cao cho đến ngày nay. Bắt đầu đời Tống, biểu
tượng 16 vị A-la-hán dần dần không còn được ưa chuộng như hình tượng Phật, nhưng
các họa sĩ vẫn còn vẽ tượng La-hán mãi cho đến cuối đời Minh, như các họa sĩ Li
Gonglin (1049-1106), Liang Kai (trước thế kỷ thứ XIII), Zhao Mengfu (1254-1322),
và Chiu Ying (khoảng từ 1494-1552).
Bắt đầu thời Ngũ đại, sự thờ phụng tượng A-la-hán
lại thịnh hành, việc minh họa lại gia tăng đến 18 vị A-la-hán. Khi nhạc sĩ Su Shi (1037-1101) bị lưu đày ra đảo Hải Nam,
lần đầu ông ta thấy tượng A-la-hán Shiba (trong bộ 18 vị A-la-hán) của họa sĩ
Zhang Xuan, sống khoảng chừng vào năm (890-930) thuộc đời tiền Chu (Former Shu
kingdom, 907-925), thời Ngũ đại, đã tạo cảm hứng cho ông sáng tác khúc tán ca về
18 vị A-la-hán. Sau đó, tại chùa Bảo Lâm, ông ta lại thấy một
bức tranh khác giống như vậy, đã thúc đẩy ông soạn một ca khúc khác.
Cả hai ca khúc của Su Shi đều mô tả hình dáng và
nêu ra danh tánh của các vị, có thêm vào 2 vị Khánh Hữu (Qingyou) và Tân
Đầu Lư (Bintoulu) thành 18 vị. Sau đó, 18 vị A-la-hán trở nên
được yêu thích hơn trong điêu khắc và hội họa. Trong các chùa, tượng các
vị được đặt phía Đông và phía Tây của Đại hùng Bửu điện, nơi mà các vị được thể
hiện làm người Hộ pháp cho đức Phật Thích-ca Mâu-ni hoặc là chư Phật quá khứ,
hiện tại và vị lai.
***
Năm trăm A-la-hán
(Ngũ bách La-hán )
là một danh xưng thường được đề cập trong kinh điển, có khi danh xưng
nầy được đồng nhất với Năm trăm tỷ-khưu (Ngũ bách tỷ-khưu) và Năm trăm cư sĩ. Có
nhiều truyền thuyết liên quan đến Năm trăm vị vẫn còn lưu truyền. Chẳng hạn,
trong kinh Pháp Hoa, phẩm Ngũ bá đệ tử thọ ký, đức Phật thọ ký cho 500 đệ tử sau
khi họ nhập niết-bàn. Trong Sheli fo wen jing, có ghi lại rằng sau khi
vua Fushamiduolou phá hoại Phật pháp, có 500 vị A-la-hán sẽ kiến lập lại. Trong
cuốn
Pháp trụ ký có ghi lại rằng cứ mỗi nhóm 16 vị A-la-hán sẽ chịu trách
nhiệm ở một quốc độ, và mỗi nhóm đều có các đoàn tùy tùng, 500 A-la-hán trở nên
một chỉnh thể cơ bản. Cũng vậy, tương truyền sau khi Đức Phật nhập
niết-bàn, ngài Ma-ha Ca-diếp cùng với 500 vị A-la-hán tổ chức kết tập lần đầu
tại thành Vương Xá (Rājagṛha ).
Vào thời vua A-dục (Aśoka), 500 vị Tăng đã chứng A-la-hán và 500 vị Tăng chưa
chứng quả đã họp lại để trùng tuyên lại giáo lý của đức Phật. Lần kết tập thứ tư
vào thời Vua Ca-nị-sắc-ca (s: Kaniṣka) ở
nước Càn-đà-la (s: gandhāra) để kết tập Đại Tỳ-bà-sa Luận (c: Da piposha lun).
Con số ‘năm trăm’ trong những chuyện như vậy chắc chắn là biểu tượng cho
con số ‘vài trăm’ và không biểu thị cho con số nhất định. Cũng
thế, không có chi tiết nào trong những câu chuyện trên đưa ra được tên của từng
vị A-la-hán. Chúng ta biết rằng chính vào đời Đường, Năm trăm A-la-hán
lần đầu tiên được đề cập đến ở Trung Hoa. Theo Ngũ đại danh họa bổ ký (c: Wudai minghua
buyi; e: Supplement to Famous Paintings of the Five Dynasties Era), điêu khắc
gia nổi tiếng đời Đường là Yang Huizhi đã tạc tượng 500 vị A-la-hán cho chùa
Guang'ai si ở Hồ Nam, đó là sự kiện điêu khắc được biết sớm nhất về tượng 500 vị
A-la-hán ở Trung Hoa. Đến thời Ngũ
đại, sự thờ phụng 500 vị A-la-hán trở nên phổ biến. Chẳng hạn, vua Qian Liu của
nước Wu-Yue (907-978), đã thếp vàng tượng 500 vị A-la-hán cúng dường cho chùa
Fangguang si trên núi Thiên Thai, và vào năm đầu tiên của triều đại Xiande
(954), Thiền sư Daoqian nhận sắc chỉ của Qian Zhongyi, lúc ấy là vua nước
Wu-Yue, dời 16 tượng các vị đệ tử của đức Phật từ chùa Lôi Đảnh (Thunder Peak
Pagoda) đến chùa Jingci và cho xây dựng Ngũ bách La hán điện ở đó-cả hai ngôi
chùa nầy đều ở Hàng Châu, kinh đô của triều đại Wu-Yue. Vào năm thứ hai triều
đại Yongxi của Bắc Tống (985?), tượng 500 vị A-la-hán được tạc xong và an trí ở
chùa Shouchang trên núi Thiên Thai. Thật vậy, vào thời Bắc Tống, sự thờ phụng
500 vị A-la-hán trở nên phổ biến, khắp lãnh thổ Trung Hoa nhiều chùa và sảnh
đường đã được kiến trúc để thờ tượng. Các hang động dùng để cất giữ quần tượng
500 vị A-la-hán bắt đầu phát sinh, chẳng hạn, 168 động tại Dazu, Sichuan bao gồm
cả tượng Đại Phật (Dafo an). Nơi đây, các bức tường trung tâm
và hai bên đều có khắc hình tượng của 500 vị A-la-hán.
Tuy
vậy, những nơi trưng bày 500 tượng A-la-hán đều không biết được danh tánh của
từng vị.
Theo một đề mục trong Baoke congbian, vào năm (933?) niên hiệu Dahe,
có bia 500 vị A-la-hán tại chùa Longxing, chi nhánh của chùa Chongfu, ở Wu
Xuanzhou, mỗi bia đều có ghi rõ tên của từng vị, nhưng nay bia này không còn
nữa. Vào ít lâu sau, thời kỳ Jinshixubian, có được bản sao của một tấm bia khắc
vào năm thứ 14 niên hiệu Shaoxing của triều đại Nam Tống (1134), trong đó, Gao
Daosu, đã soạn ra bằng cách tập hợp lại những bản kinh Phật thông dụng và
tóm tắt lại thành tên 500 vị A-la-hán. Bia
nầy được dựng tại chùa Qianming ở Jiangyin. Mặc dù đây là ghi chép sớm nhất về
tên của 500 vị A-la-hán ở Trung Hoa, nhưng đó chỉ là ‘tôn hiệu’ (zunhao)–chưa
phải là sự minh họa theo hình dáng của chính từng vị như đã được khắc vẽ. Tuy
vậy, từ đó trở đi, khi các chùa kiến trúc điện thờ tượng 500 vị A-la-hán, thì
các họa sĩ đều khắc tên các vị theo danh sách trong bia
nầy. Qua thời kỳ Chongzhen của nhà Minh,
Gao Chengyan lại thuê khắc bia ghi tên 500 vị A-la-hán
dựng tại chùa Qianming ở Jiangyin, rồi Gao Youji, con trai ông ta, lại nhờ người
khắc bia ấy lần thứ hai và chép sang Jiaxing zang, nơi đây bia còn giữ được
nguyên trạng. Tuy nhiên, nay chỉ còn tên của các vị A-la-hán.
Mãi cho
đến thời Nam Tống, có vài người sưu tập các minh họa và cho ra đời bản in gỗ Bộ
tranh tượng A-la-hán–đây là bộ minh họa các vị A-la-hán đầu tiên được biết
đến. Công trình nầy được in lại từ bản gỗ mới
vào thế kỷ thứ 16 thời kỳ Chongzhen (1643). Mặc dù ngày nay không còn bản
sao các tác phẩm nầy, nhưng nó lại được in lại vào năm thứ 52 thời Càn Long
(Qianlong; 1787)–Bộ minh họa 518 vị A-la-hán chùa Qianming, dưới sự trông coi
của sư trú trì Dache, một vị cao tăng vào thời Càn Long. La-hán tự hay là
Qianming yuan được dựng lên ở Shifang, Chongqing, Siquan vẫn còn đến ngày nay. Chùa
đầu tiên được xây vào đời Tống, bị đổ nát vào thời Nguyên và Minh rồi được trùng
tu vào năm thứ 17 thời Càn Long (1752), và một thời gian sau, 518 tượng A-la-hán
được tạc xong, và sau đó là Bộ minh họa vào đời Minh. Ngôi chùa bị phá
hủy vì bom của máy bay Nhật trong thời chiến tranh, sau đó lại được trùng tu năm
1945, các tượng A-la-hán mới một lần nữa lại hiện diện đầy đủ trong La-hán
đường.±
Mỹ thuật trong Phật giáo Mật tông Ấn Độ, ở vùng Hy-mã-lạp sơn,
và vùng Đông Nam Á được kích thích bởi Kim cương thừa (Vajrayāna), có khi được
gọi là Tantra, gọi cho những kinh điển được gọi là tantra (nghĩa là
đan dệt–woven threads) mà tông phái đó hành trì. Những mỹ
thuật này là những bộ phận hoàn chỉnh của nghi thức thiền định (sadhana) mà Kim
cương thừa phát triển để khai thác năng lực cần có để thành tựu giác ngộ chỉ
trong một đời. Mỹ thuật Kim cương thừa được gọi là Mỹ thuật Mật tông Phật
giáo vì phức cảm mãnh liệt và đặc trưng bí ẩn của các pháp thiền quán khiến cho
đặc trưng của nền nghệ thuật ấy trở nên huyền bí và “ẩn mật” đối với tất cả,
nhất là người sơ cơ. Để vận dụng hoàn toàn nghệ thuật Mật
tông, các hành giả phải được hướng dẫn ngay từng bước bởi một vị đạo sư phẩm
hạnh. Quan niệm chỉ cần tu tập y
theo kinh điển là chưa đủ.
H.1 Sự hợp
nhất của Cakrasamvara và Vajravarahi. Tranh treo tường
(thangka). Ở Nepal, khoảng vào năm 1450. Sưu tập của Nasli và
Alice
Heeramaneck. Hiện trưng bày ở Viện Bảo tàng County Museum of
Art, Los Angeles, Hoa Kỳ.
Về mặt thẩm mỹ, có một vài khái quát có thể được
nêu ra về hội họa Mật tông. Vì hình thái của con
người là một ‘pháp khí’ để tu đạo, dáng dấp đó là tối cao.
Hình ảnh của biểu tượng là rất quan trọng vì là trung tâm cho những pháp thiền
quán đặc biệt. Một Mạn-đà-la thường kết hợp trong cách
dùng những hình ảnh và biểu tượng để tạo nên hiệu quả.
Bố cục, chiều sâu, và khối lượng chỉ được định rõ qua vị trí kề nhau của các màu
sắc tương phản và những lằn ranh định nghĩa chắc chắn; những miêu tả hiện thực
đều không được quý trọng. Phần lớn bối cảnh và chi tiết đều là lý tưởng
hóa và cách điệu thành mẫu thức cân xứng uyển chuyển.
Thị kiến (visual) hỗ trợ
cho nghi thức thiền quán
Mật tông Phật giáo sử dụng rất nhiều thị kiến
về hình tượng và các biểu tượng để truyền đạt giáo pháp hơn các tông phái Phật
giáo khác. Điều này do Kim cương thừa sử dụng kinh điển quá thâm thúy đến
mức ý nghĩa có vẻ bề ngoài như được
truyền đạt chỉ qua mỹ thuật. Ngay cả tên gọi của tông này, ‘Kim cang’, có nghĩa
là ‘sấm sét’ hay ‘một thứ kim
loại bền chắc, không hư hoại,’ được biểu hiện qua nghệ thuật bởi thể hiện nghi
thức để hiển bày chân lý ẩn mật của danh xưng. Kim cang là một
cây trụ trượng thường gồm có năm nhánh gắn với nhau ở đầu mút; trụ trượng biểu
tượng cho sức mạnh và phương pháp tu tập tập trung vào năm Đức Phật siêu việt
(Ngũ trí Như Lai), rốt ráo kết hợp cùng nhau trong cảnh giới giác ngộ. Có
khi Kim cang được gắn liền với một cái chuông nhỏ, biểu tượng cho trí huệ (p:
Prajñā; e: Wisdom).
Một cái chuông với Kim cương thủ như vậy biểu tượng cho sự
quân bình hoàn hảo và thiết yếu của sự kết hợp giữa phương tiện với trí huệ để
thành tựu giác ngộ.
Có một phạm vi rất rộng của phương tiện
truyền thông được dùng cho nghệ thuật Mật tông. Tranh treo tường (thang ka),
có nghĩa là ‘vật được treo lên’, là những tác phẩm nghệ thuật thường được trưng
bày trong các tu viện hay trong các bức tường của điện thờ, và những thủ bút
minh họa là những hình thái nghệ thuật thông dụng nhất được dùng như sự hỗ trợ
cho công phu thiền quán. Chúng thường được ủy nhiệm như quà tặng hay vật kỷ niệm
một sự kiện đặc biệt hay trong một lễ hội. Các tác phẩm điêu khắc dùng cho điện
thờ hoặc trong các hốc tường để tượng đều được đúc bằng kim
loại, khắc bằng gỗ, hoặc điêu khắc bằng đất sét, thường được sơn hoặc mạ. Những
pháp khí bằng thủ công dùng trong nghi thức thiền quán hoặc vũ hội (t: cham)
thường được đúc bằng kim
loại, ngọc và đá quý cũng được sử dụng, cùng với xương, vỏ sò, và pha lê. Nhiều phương tiện truyền thông tạm thời gồm bản in khắc gỗ, linh kỳ
(prayer flag), và tranh nguyện bằng đất sét. Quà tặng, đặc biệt là những
Mạn-đà-la điểm đạo, có thể được làm bằng hầu hết mọi chất liệu, như phấn,
bơ, mễ cốc hoặc cát. Hai hình thái chính của kiến trúc linh thiêng trong
Phật giáo Mật tông là tháp (stūpa) , được gọi là mchod rten
(chorten) ở vùng Hy-mã-lạp sơn và phức hợp công trình kiến trúc chùa viện,
gồm chánh điện, sân lễ hội và phòng xá cho tăng ni.
H.2 Tượng Nữ thần Kim cang (Goddess Vajravara), ở
miền Trung Tây Tạng, thế kỷ thứ 14. Hiện được trưng bày ở Viện Bảo tàng Los Angeles County Museum
of Art,
Các vị thần siêu việt trong
nghệ thuật Mật giáo
Đức Phật Thích-ca Mâu-ni được tôn sùng, hay đúng hơn là được nhân
rộng ra gấp nhiều lần, thành hai nhóm trong các vị thần của Mật giáo. Giáo pháp
của ngài do vậy trở nên tinh vi hơn trong hệ thống thị kiến cụ thể được sắp xếp thành các
đồ hình Mạn-đà-la, các biểu đồ huyền bí vạch ra các tiến trình thiền quán. Nhóm
đầu tiên gồm năm Đức Phật siêu việt là nguồn gốc của năm chủng tánh Phật (buddha
families) của các thần. Nhóm thứ hai bao gồm một loạt các loại chúng sinh, phần
lớn được chấp nhận từ các truyền thống địa phương, là những người bảo trợ cho
những công phu chuyên biệt; đây là những vị hộ pháp hay các vị thần được nhân
cách hóa tiếng Tây Tạng gọi là yidams (s: istadevata).
Trong mỗi tông phái Kim cương thừa Phật giáo, nhóm thứ hai kết hợp
vào nhóm thứ nhất theo một phương thức nhấn mạnh vào
giáo pháp riêng của nó.
Mô tả bằng hình tượng của các vị thần Mật giáo này
rất nghiêm cẩn. Năm Đức Phật siêu việt được được đồng nhất bởi màu sắc, thủ ấn, và phương hướng của
Mạn-đà-la (phương Đông là ở dưới cùng), và mỗi phương diện mô tả một khía cạnh
đặc biệt cả cuộc đời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
1. A-súc-bệ Phật (Akṣobhya): Bất Động Phật (Kim cang bộ): màu
xanh ngọc bích, xúc địa ấn (bhumisparśa-mudra), vị trí ở phương Đông (một số
tông phái đặt A-súc-bệ Phật ở vị trí trung tâm). Đức Phật biểu
tượng cho sự giác ngộ.
2. Bảo sanh Phật (Ratnasambhava; s: Jewel-Born); Bảo bộ, Thí ấn
(varada-mudra), màu vàng ròng, phương nam, tâm bao dung của Đức Phật được
thể hiện qua cách thể hiện sự giáo hóa như được mô tả qua chuyện tiền thân của
ngài.
3. A-di-đà Phật: Vô lượng Quang (Liên hoa bộ), màu hồng, thiền định
ấn (dhyāna-mudra); phương Tây, con đường thiền định của chư
Phật.
4. Bất không thành tựu Phật (Amoghasiddhi; e: Infallible Success),
(Yết-ma bộ), màu xanh lục, thủ hộ ấn (s: abhaya-mudra); phương Bắc, năng lực
mầu nhiệm phòng hộ và cứu giúp chúng sinh.
5. Tỳ-lô-giá-na, Vairocana, (Phật bộ), màu
trắng Kim cang, ấn chuyển pháp luân (s: dharmacakra-mudra), vị trí trung tâm
(một số phái bố trí ở phía Đông); biểu tượng cho thời thuyết pháp đầu tiên
của Đức Phật và toàn bộ giáo lý của ngài.
Màu sắc của các yidam
đều được xác định bởi vị trí trong Ngũ bộ. Năng lực và pháp
khí mà họ sử dụng trong những nghi thức thiền định riêng biệt mà các ngài hướng
dẫn đều được trình bày bởi thuộc tính riêng.
Chẳng hạn, yidam của Vajravarah có màu đỏ vì vị ấy có
liên quan đến Đức Phật A-di-đà. Vị này mang một thanh
kiếm lễ để cắt đứt vô minh, vì chức năng của Vajravarah là ban tặng trí huệ siêu
việt. Kết thân của vị này là Cakrasamvara có màu xanh vì vị này có liên
quan đến Đức Phật Bất Động (Akṣobhya), ngài mang nhiều vũ khí vì ngài đảm nhiệm vai trò cung
cấp mọi phương tiện thiện xảo, tất cả đều phát xuất từ tâm từ bi, đều cần thiết
để khuyến khích người tu tập trở thành giác ngộ.
Sự khác nhau của các địa phương
Hành giả và các
nghệ sĩ của Mật tông Phật giáo giữ địa vị lãnh đạo sau năm 500. Họ bắt đầu tạo
hình tượng của nhiều vị Hộ thần (deity) mới, thường thể hiện các tư thế giao
phối theo nghi thức (yuganaddha). Họ cũng gia tăng việc
mô tả các thủ ấn và các pháp khí đa dạng, mở rộng cách dùng các mạn-đà-la, và
nhận ra rằng chính các hình thái mỹ thuật tự chúng có thể là những dạng tu tập
tâm linh. Những hình tượng sớm nhất về một vị thần cầm chày
Kim cang có lẽ đã xuất hiện ở miền tây bắc vùng Gandhara cổ.
Theo sau sự lớn mạnh của Phật giáo Tây Tạng vào thế kỷ thứ 7, mỹ
thuật Mật giáo Tây Tạng phát triển chung quanh một nhân tố của hình thái Mật
tông Ấn Độ cổ xưa, mà các thầy tế bản xứ sử dụng gọi là đạo Bon. Riêng đối với
Tây Tạng và sau đó đối với Nepal, có cách vận dụng rộng rãi tư thế gọi là
yab-yum, tiếng Tây Tạng nghĩa đen là ‘cha-mẹ’, như là một ẩn dụ cho thị kiến
mạnh mẽ về sự cần thiết tuyệt đối trong sự kết hợp trí huệ siêu việt của nữ thần
với phương tiện thiện xảo của nam thần. Vũ điệu với tư thế quay cuồng của phần lớn các hình tượng lõa thể
cũng là đặc điểm của vùng Hy-mã-lạp sơn.
Một hình thái mô
tả bằng hình tượng Tây Tạng là biểu đồ hệ phái được dùng để hợp pháp hóa
các tông phái, dòng tái sanh –tulku
(s: sprulsku; e: living incarnations) của các vị Bồ-tát, đặc biệt như Đức
Đạt-lại Lat-ma 14 là tái sinh của Bồ-tát Quán Thế Âm, và các bậc thầy trong một
phả hệ từ bậc Tổ sư đời trước và các Phật bộ siêu việt. Song song với tiến trình
phát triển này là sự gia tăng nhanh chóng của các ngôi tháp nhỏ (mchod rtens)
để tưởng niệm, cũng như để cầu nguyện, năng lực che chở của các Đạo sư, của vị
Thánh, của các vị tulku và kinh điển linh thiêng. Các
mạn-đà-la khổng lồ ba chiều, một số cùng với các điện thờ bên trong, cũng được
tưởng tượng như là các tháp nhỏ (mchod rtens).
Độc đáo nhất trong mỹ thuật xứ Nepal là mắt
tháp (eye-mchod rtens), với hình tượng một con mắt khổng lồ vẽ trên mỗi cạnh
của nền vuông phía dưới đỉnh xoắn ốc; những con mắt này thuộc về Đức Phật
Tỳ-lô-giá-na hoặc Phật Bản sơ (Adibuddha).
Các pháp khí (ritual object) như bánh
xe cầu nguyện, chày Kim cang (rdo rje), chuông nhỏ, và phur pa (dùng
để câu triệu quỷ thần) được phát triển mạnh ở những vùng Hy-mã-lạp sơn.
Những kỹ thuật tinh vi phức tạp cao trong việc tạo ra
và hiến cúng những pháp khí linh thiêng này lan rộng ở miền
Nam
và Đông Á.
H.3 Tượng đài Borobudur ở Java,
Indonesia.
Ảnh của Charles and Josette Lenars/Corbis.
Mật tông Phật giáo ở Đông Nam Á hưng
thịnh chủ yếu ở Bhutan, Myanmar,
Kampuchea, Malasya, và Indonesia. Hình
thức nghệ thuật Mật giáo quan trọng nhất hiện còn là phức hợp đền Angkor Thom ở
Cambodia và Borobudur ở Java cũng như nhiều mẫu pháp khí và điêu khắc rất đẹp. Borobudur (khoảng năm 850) dựng lại cuộc đời của Đức Phật
Thích-ca Mâu-ni như là con đường lý tưởng của sự giác ngộ. Mỗi tầng được trình
bày trên một cạnh khác nhau của mạn-đà-la khổng lồ ba chiều, với 72 tháp xuyên
qua trên đỉnh, mỗi tháp có tôn trí Đức Phật Tỳ-lô-giá-na, biểu tượng cho trí huệ
của ngài đang chiếu khắp các cõi giới. Khu vực này vừa là thể
hiện phương diện hiển lộ cũng như về phương diện ẩn mật, tinh thần giác ngộ và
sự nhập diệt của Đức Phật.
Nguồn:
Encyclopedia of Buddhism.
Mac Millan Reference. USA. 2003.
R.E. Buswell chủ biên.
GAIL MAXWELL Viện Bảo tàng Mỹ thuật
Los Angeles County Museum of Art
Nhuận Châu dịch